Vật liệu lợp khác

1. Tấm fibro ximăng
Tám fibre ximãng còn gọi là tấm ximăng amiăng, tấm sóng caniăng,… Nguyên liệu sản xuất tấm fibre ximãng gồm ximăng (80-90%, theo khối lượng), sợi amiãng (10-20%) và nước.
Tấm fibre ximãng có khối lượng thể tích 750 – 900 kg/m3, môđun đàn hồi E = 26 – 36 kN/mm2, độ hút nước T = 16 – 25%, hệ số co nở D =
25 – 72 dô X 10-6.
Tấm fibre xiraãng dùng để lợp nhà, làm vách ngăn, làm trần,… Do tấm fibre ximãng tương đối nhẹ nên khi dùng để lợp mái sẽ đỡ tốn gỗ làm mái, cách nước tốt, cường độ cao, dai và đàn hồi nên cố thể đóng dịnh, cưa cắt,… và khó cháy. Tuy vậy, do có chứa amiãng là chất độc hại
nên gần đây đã có xu hướng thay bằng xơ sợi thực vật. Giá thành tấm fibre ximãng thấp nên rất phù hợp với điều kiện nông thôn, miền núi nhưng khi dùng để lợp không nên hứng nước mưa của mái lợp này để dùng ăn uống.
Tấm fibre ximãng có loại phẳng có gờ (h.l.Ị3a), loại lượn sóng (tấm có múi, hình 1.13b), tấm úp nóc. Kích thước tấm loại phẳng có gờ: (800 và 1200) X 553, loại lượn sóng: 1200 X 570 (650), 1400 X 700 (650) và loại úp nóc: 580 (600) X 320 (350) (mm) (tất cả đều dày 8 mm). Khối lượng của tấm lượn sóng là 13 -14 và 18 kg/tấm, hoặc 28 – 31 và 25 – 26 kg/m2 mái.

Vật liệu lợp khác 1

Hình 2.13

Tấm fibre ximăng phải đạt các yêu cầu của TCVN 4434 – 1992 (Tấm . sóng amiăng. Yêu cầu kỹ. thuật): bề mặt chịu mua nắng phải nhẵn, không rạn nứt, các cạnh và góc khống sứt mẻ, các góc phấi vuông, tấm không bị phân lớp, cong vênh, không có lỗ rỗng, thớ mịn,… Tấm fibre ximãng phải có sức chịu uốn ít nhất là 162 kơ, độ rỗng r không quá 20%, độ hút nước T sau 24 giờ không quá 15%.
Trong kho tẩm fibre ximãng phải xếp đứng theo cạnh dài, nghiêng 75 – 80° so với mặt đất. Giữa các tấm phải đệm thanh tre hay gỗ dày 3 mm suốt chiều rộng tám fibre ximãng. Mỗi lớp xếp như vậy không quá
25 tấm.

2. Đá !ợp, tôn, rơm rạ,...
Đá lợp được chế tạo thành những phiến mỏng. Loại đày 26 mm có hình chữ nhật (215 – 350) X (160 – 250), loại dày 30 mm có hình vuông cạnh 250 – 400 mm.
Chỉ những nhà cao cấp hoặc công trình nghệ thuật mới dùng đá lọp.
Ngoài ra còn dùng tôn (xem ở mục 2.5.1). thép lá (xem ở mục 2.5.2), tấm nhựa (xem ở mục 2.12.3), giấy dẩu(1), bìa, cót ép bitum (xem ờ mục 2.7.4), gudrong (xem ở mục 2.7.5), lá cót tẩm dầu, lá cọ, lá gồi, lá mía, cỏ gianh, rơm rạ (2), nứa,… để lợp. Lá mía, cỏ tranh, rạ, nứa,… được đánh thành tranh. Tranh nứa, lá cọ rất bền. Lọp bằng các loại lá thì chống dột tốt, mát nhung dễ cháy.