Thiết kế tường – P4

B. Các bộ phận liên quan đến tường

1. Chân tường là đoạn tường trên móngkhoảnglOOO mm, có tác dụng chống ẩm, chống các lục va chạm và làm cho ngôi nhà có cảm giác vững vàng và nhẹ nhõm hơn. Chân tường thường nhô ra khỏi mặt tường nhưng cần dể góc vát tránh nước dọng (h.3.144a), không được để gờ nằm ngang làm đọng nước (h. 3.144b), có thể phẳng với thân tường (h.3.144c) hoặc thụt vào (h.3.14.4d). 
Chân tường xây bằng gạch tốt có mac > 75, đá, bêtông, không xây bằng gạch rỗng, gạch không núng.
Chân tường nên xây bằng vữa > 50, trát bằng vũa mac > 25. Nếu là chân tường bằng bẽtộng thì không cần trát (để trần).

2. Gờ tường để ngăn nước mưa không chảy thành giòng theo mặt đứng của tường, mà chảy thành giọt xuống dưới, đồng thời chia mặt đứng nhà thành từng phần, tạo sự hài hòa, cân đối cho nhà.
Gờ tường phải theo quy định ở mục 1.1.4.
Gờ tường có gờ chân tưòng, gờ bậu cửa sổ, gờ ngang tầng (cùng cao độ với sàn), gờ tường mật chính. Cảc gờ này khác nhau về vị ưí nhưng cấu tạo thì giống nhau ở đầu giọt chảy của gờ. Đầu này phải đảm bảo chiều rộng rãnh lõm > 15 nun (h.3.145a) làm cho nước
không chảy chờm vào mép trong, không được làm như ở hình 3.145b. Gờ chân tường vừa nói ở trên.
Gờ bậu cửa sổ xem ở mục 3.3.8.2.

3. Gờ hắt nước, còn gọi là gờ dua xây ở đỉnh nhà (chạy quanh diềm mái), khoảng cao độ diềm mái, trẽn các cửa sổ và của đi.
Một số dạng gờ hắt nước như ờ hình 3.146 (phần gạch chéo cần xây trước).

Thiết kế tường - P4 1
Hình 3.146

Gờ hát nước trên của xem ở mục 3.3.8.2.
Gờ hắt nước xây bằng đá vôi, đá tuyp phải phủ mặt ưên bằng tôn tráng kẽm để tránh mưa nắng.

4. Lỗ thông hơi còn gọi là lố thoáng, bố trí trên tường ở vị trí sát trần và cả chân tường càng tốt. Các lỗ thông hơi nên nhiều về phía hướng gió chính của mùa hè và phía cửa đi, vì cửa di hay bị đóng.

5. Tủ tường được bố trí lẫn vào trong tưòng, rất ít chiếm diộn tích phòng, chiều sâu < 0,6m, rất được ưa chuông. Tủ tưông có ba
mặt là tường, mặt trước rộng 0,8 – 1,2 ro, thường làm hai cánh cửa gỗ (h.3.147).

Thiết kế tường - P4 1

6. Lanhtô còn gọi là xà -vượt của, xà đỡ. Lanhtô là bô phận kết cấu trên các lỗ tường (lỗ cửa đi, cửa sổ, tủ tường,…), có nhiệm vụ đỡ mảng tường trên nó. Lanhtô thực chất cũng là dầm.
Tùy theo diều kiện làm việc, lanhtô dược phân ra: lanhtô chịu lực và lanhtô không chịu lực (tự mang).
Để tránh nước, lanhtô cần có móc nước (h.3.148a) và gờ hắt nước (h. 3.148b).

Thiết kế tường - P4 1

Lanhtô có thể làm bằng gạch, đá, gạch – đá cốt thép, bêtông cốt thép gỗ (có khi dùng luôn khuôn cửa gỗ) hoặc thép hình.
a/ Lanhtô gạch, đá xảy bằng không cốt thép có các loại như ở hình 3.149: a/ vỉa đứng; b/ vỉa nghiêng hình quạt; c/ vỉa nghiêng hình nêm.

Thiết kế tường - P4 1

Lanhtô bằng gạch, đá có nhược điểm là nặng nề và thi công khó hơn. Nhịp lớn nhất ỉ của lanhtô bằng gạch, dá không cốt thép khi xây bằng gạch, đá có mac > 75 lấy theo bảng 3.8.
Bảng 3.8

Thiết kế tường - P4 1

Khi gạch, đá có mac < 75 thì / lấy ở bảng 3.8 phải nhân với:
0,8 – khi mac gạch, đá 35 – 50;
0,7 – khi mac gạch, đá 15 – 25.
Chiéu cao cấu tạo nhỏ nhất h (h.3.149a) của lanhtô gạch, dá không cốt thép tỷ lệ với nhịp / như ở bảng 3.9 và không được nhỏ hơn bốn hàng gạch hòặc ba hàng dá.
Bảng 3.9

Thiết kế tường - P4 1

Mac yữa xây lanhtô gạch, đá phải lớn hơn mac vữa xây tường một cấp. Lanhtô gạch, đá không cốt thép xây bằng thi công phức tạp, tốn gỗ làm ván khuôn và dễ nứt khi hai gối tựa của nó bị lún không dều. b/ Lanhtô gạch, đá có cốt thép xây bằng như ở hình 3.150.

Lanhtô này được dùng khi /< 2,0 m. Khi lỗ tường sát góc tường thì không dùng loại lanhtô gạch, đá xây bằng không có cốt thép, mà phải dùng loại lanhtô gạch, đá xây bằng có cốt thép. Khi đật cốt thép thì cốt thép phải ăn sâu vào tường > 250 mm và phải bẻ quặt lên lớp gạch ưên, đặt 3 thanh cho tường 220 mm hoặc tường dày hơn, đặt 2 thanh cho tường 110 mm, lớp vữa dạy 30 – 40 mm hét chiều rộng tường, mac vữa > 50.
c/ Lanhtô gạch, đá xây cuốn vòm có hai kiểu: vành lược (h.3.149d) và bán nguyệt (h.3.149e).
Lanhtô gạch, đá xây vòm kiểu vành lược dùng khi nhịp / < 1,6 m và thường dùng R = /.
1 /
Lanhtô gạch, đá xây vòm kiếu bán nguyệt (— hình tròn, R = —)
dùng khi /< 2,0 m. Một số dạng vòm kiểu bán nguyệt bằng đá đẽo như ở hình 3.151.
Khi cuốn vòm thì dùng vữa mac > 25.
d/ Lanhíô bẻtông cốt thép (h.3.152) thường dược dùng nhiều nhất.

Lanhtô bêtông cốt thép có thể đổ tại chỗ hoặc lắp ghép. Một số dạng lanhtô bêtông cốt thép đổ tại chỗ như ở hình 3.153: a/ rộng bằng tường gạch; b/ hình chữ L (khi tường 335 mm); c/ kết hợp với sàn và ôvăng.
Lanhtô bêtông cốt thép có thể kết hợp với sàn bêtông cốt thép, giằng bêtông cốt thép, ôvăng bêtông cốt thép để tiết kiệm vật liêu. Khi lanhtô

bêtông cốt thép kết hợp với ôvãng bêtông cốt thép (h.3.132) thường đúc sẫn thành một khối (h.3.154) để đặt vào tường cho đỡ tốn ván khuôn và thi công nhanh.

Lanhtô bêtông cốt thép phải gác vào tường mỗi bên > 200 mm.
Chiều rộng ianhtô bêtông cốt thép bằng chiều dày tường, chiều cao bằng chẵn 2-3 hàng gạch (cả vữa).
Lanhtô bêtổng cốt thép dùng bêtông mac 150 – 200.

7. Giằng tường còn gọi là dai tường, có thể bằng gạch’ cốt thép nhưng thường bằng hêtông cốt thép. Giằng tường là một trong những biện pháp xử lý bằng kết cấu có hiệu quả.
Giằng tường liên kết các tường làm thành hệ kết cấu không gian, đảm bảo độ ổn định của bản thân tường và độ cứng không gian của nhà. Giằng tường có nhiệm vụ tiếp thu các ứng lực kéo, mômen và lực cắt khi có lún lệch. Giằng tường tạo cho các bức tường ngang và tường dọc thành một khối thống nhất, tránh cho các góc tường khồng bị xé nứt. Giằng tường đặt dưới trần nhà ròn có tác dụng chống nứt do nhiệt dộ.
thiết kế giằng tườig là xác định vị trí đặt giằng, kích thước, số lượng và lượng cốt thép cần thiết trong giằng để đảm bảo điều kiện chịu lực. Vị trí của giằng tưi ng phụ thuộc tính chất biến dạng của nhà. Kích thước, cốt thép, số lượng giằng xác định theo tính chất của nền.
Giằng tường chính là dầm chịu lực nên kết cấu phải sao cho tận dụng được hết mọi khả năng chịu lực của vật liệu.
Giằng tường thường dày (cao) bằng một hoặc hai lần chiều dày viên gạch.
Khi dùng các giằng gạch cốt thép thì lấy (ị) 6 – 12, đặt 3 – 6 thanh trong một giằng với chiều dày mạch vữa 30-40 mm, mac > 75.
Nhà có thể bị uốn cong xuống (h.3.70b) hoặc bị uốn vồng lên (h.3.70c) do đó vị trí các giằng có thể ờ phía ữên hoặc phía dưới tường.
Xét vể điều kiện làm việc của kết cấu, hợp lý nhất là bố trí các giằng ờ cao trình gần trần. Để đảm bảo cho nhà có độ cứng không gian lớn, các giằng thường được bố trí liên tục trên suốt các tường dọc và tường ngang.
Khi là nhà khung chịu lực thì hộ giằng tường kết hợp làm dầm với sàn bêtông cốt thép thành một khối, do đó không phải làm thêm giằng
tuờng. Khi là tường chịu lực thì hệ giằng tường bô’ trí ở đỉnh tường đúc cùng với bản sàn bêtông cốt thép hoặc đặt (lắp ghép) bản sàn đã đúc sẵn lên trẽn giằng tường. Nếu làm thêm hệ giằng tường ở chân tường càng tốt.
Khi tường tương đối cao hoặc có nhiều lỗ cửa thì nên làm hệ giằng tường ở vị trí lanhtô cửa.
Khi sàn bêtông cốt thép đổ tại chỗ và phủ lên toàn bô chiều dày tường thì không cần làm thêm giằng tường.

8. Tấm đệm còn gọi là bản đệm, gối tiía. Tấm đêm là một trong những biện pháp xử lý bằng kết cấu.
Khi dầm (xà ngang), đòn tay (xà gồ), lanhtô,… đặt lên tường gạch, đá làm tường tại chỗ đặt bị ép cục bộ. Để phân bố áp lực rộng hơn lên tường, người tạ làm tám độm bêtóng cốt thép, bêtông, thép hoặc có thể là lớp vữa ximãng – cát mac > 50, dày 30mm (h.3.155).
Tám đệm còn có tác dụng liên kết trụ với tường,
khi đó thường tấm đêm được làm bằng bêtông cốt thép, phải dày > 140 mm và đặt hai lớp lưới thép (h.3.156).