Thiết kế tường – P3

18. Tường trình có thể trình bằng đất hoặc bằng xỉ lò vôi. Nếu dùng vật liệu tốt để trình, kỹ thuật trình, đâm bảo thì chất lượng tường trình không kém tường xây bằng gạch không nung thủ công.
Tường trình bằng dất có chân rộng 800 mm, móng đặt sâu 200 – 300 mm, thân tường giật cấp hay hình thang (h.3.143a). Tường trình bằng đất không nên cao quá 2 500 mm và không đặt kèo trực tiếp lên tường trình.
Tường trình bằng xỉ lò vôi còn gọi là tường trình bằng vôi ừạt, móng rộng 500 – 800 m, đặt sâu 200 – 300 mm, chân tường rộng 400 mm, cao 800 mm. Tường trình bằng xỉ lò vôi cao < 3000 mm, đình dày 200 – 300 mm, giật cấp.
Tường trình kết hợp với gạch xây phía trẽn (h.3.143 b) càng tốt.

Thiết kế tường - P3 1
Hình 3.143

Tường trình không chịu được ẩm ướt nên cẩn trát ngoài, vữa trát bằng đất bột – cát, không dùng vữa vôi – cát, vì vữa này không bám được vào tường trình.
Để bảo vệ tường trình, quanh nhà không được trồng dây leo lên tường trình, vì sẽ làm tường ẩm ướt, chóng hỏng.
16. Tường đắp dùng đất như tường trình nhưng thi công bằng cách dắp. Tường đắp dày 300 – 500 mm. Tường đắp chỉ dùng cho nhà tạm.
17. Tường rỗng là tường mà khi xây người ta chừa các khoảng cách giữa một số viên gạch theo chiều dày cũng như theo chiều đứng. Các khoảng cách này có thể để rỗng hoặc được lấp đầy vật liệu nhẹ. MuCjdich của tường rỗng là để cách âm, cách nhiệt, giảm nhẹ trọng lượng tường,…
18. Tường cách ám nên xây bằng gạch đất sét nung > 6 lỗ, vì cách âm tốt mà tường lại nhẹ, gạch dễ mua. Thực tế tường xây bằng loại vật liêu nào cũng có tác dụng cách âm. Chẳng hạn chỉ số cách âm (dB: đêxiben) dối với tường xây bằng gạch dặc:
51 – khi lường dày 220 mm;
55 – khi tường dày 335 mm;
58 – khi tường dày 450 mm.
19. Tường có trát vữa (xem ờ mục 4.3.1).
20. Tường không trát vữa (xem ờ mục 4.3.1).
21. Tường Xáy có dặt cốt thép (xem ờ mục 4.3.1).
22. Tường toàn khối còn gọi là tường khối, gồm tường xây và tường đúc tại chỗ. Trong nhà ờ gia đình thường dùng tường xây. Tường xây có thể xây bằng các viên xây nhỏ (5-6 kg), to (18 – 20 kg), lớn (các khối lớn). Thông thường viên xây là gạch, dá.
Tường toàn khối có thể là kết cấu chịu lực hoặc kết cấu bao che. Tường toàn khối cùng với hệ thống sàn tạo thành hộp xây không gian để chịu lực.
23. Tường lắp ghép là những bản hay blôc dúc sẵn dể lắp ghép lại với nhau. Mỗi bản hay blôc nặng 1 – 5 tán nên khi lắp ghép phải dùng cần
cẩu.
Nhà ờ gia đình rất ít khi dùng tường lắp ghép.
24. Vách ngán là kết cấu không chịu lực, chỉ để ngăn chia không gian trong nhà. Vách ngăn dễ tháo lắp, nhẹ. Vách ngăn cần đảm bảo các yeu cầu sau đây:
– Đù dộ cứng và ổn định;
– Cách âm;
– Mỹ quan: Bề mặt nhẫn, không bị nút,…
Thông thường người ta hay dùng vách ngăn bằng gỗ, nhựa, thạch cao,…
25. Vách vôi – rơm còn gọi là tường vôi – rơm, vách toocxi. Đây là vách dùng vữa vôi – rơm, trát lẽn dứng tre.
26. Vách bùn – ram còn gọi là tường dứng, tương tự như vách vôi – rơm nhưng thay vôi bằng bùn.
27. Vách phên còn gọi là vách cót, được làm bằng nứa tép đập dập đan lóng mốt hoặc lóng hai, thành tùng tấm suốt cả gian nhà hay nhiều gian nhà.
Dùng hệ thống nẹp tre cả hai phía vách tạo thành hệ nẹp vuông góc để ghìm phên vào các đố.
Nếu vách phên dùng cót ép sẽ phẳng và bền hơn.