Thiết kế tường – P2

9. Tầng tầng hầm có chiều cao không lớn lắm nên thường dùng cổ móng làm tường, do vậy còn gọi là tường móng. Mặt trong và mặt ngoài của tường tầng hầm dều thẳng đứng (dày như nhau và không có bậc). Tường tầng hầm thường chịu nén lệch tâm và có thể bị phá hoại do:
– Trượt theo nền về phía trước, vì lực ma sát giữa mặt móng và nền không đủ;
– Lật xoay quanh mép trước của đáy móng tường, do lực xô của đất quá lổn khi dang thi công;
– Nghiêng quá nhiều, do dất nền bị phá hoại.
Tường tầng hầm có thể xây bằng gạch, đá, bêtông,… Nếu xây bằng đá thì phải dày > 300 mm – khi dùng đá phiến; . •>
> 350 mm – khi dùng các đá khác.

Thiết kế tường - P2 1

10. Tường chấn nền nhà còn gọi là tường chắn đất, là loại kết cấu dùng dể chống đỡ áp lực đẩy của đất hoặc vật liệu cần chắn, ngăn ngừa không cho chúng sạt lờ ra phía ngoài. Trong Xây dựng nhà tường chắn dùng dể chắn đất khi xây dụng ở vùng đồi, bờ biển,… để phòng đất nền bị trượt hoặc sụt lở.
Tường chắn dất làm bằng gạch, đá, bêtông. Tường chắn đất bằng gạch, đá thích hợp khi chiều cao tường không lổn.
Tiết diện của một số dạng tường chấn nền nhà như ở hình 3.136: a/ tường bằng bêtông, mặt trong dốc nghiêng; b/ tường gạch, đá, mặt trong xây giật cáp (thành bậc) làm tăng ổn định cho tường, mặt ngoài dốc nghiêng; c/ như b/ nhung mặt ngoài thẳng đứng (dẽ thi công) và d/ thân tường có chiều dày không đổi, có thêm các sườn dứng để tăng khả năng chịu lực (dùng khi chiẻu cab tường không lớn lắm).

Tường chắn nền nhà bằng gạch, đá có đế móng tường bằng bản bêtông cốt thép (h.3.137) hay được dùng.

Thiết kế tường - P2 1

11. Tường chắn mái còn gọi là tường vượt mái, tường trên mái,… Tường chắn mái xây xung quanh mái, để che sống mái, an toàn cho người lên mái và tăng dộ an toàn chung cho nhà, gây ấn tượng cân đối cho nhà.

Thiết kế tường - P2 1
Hình 3.138

Tường chắn mái chịu tải trọng gio nen không xây > 600 mm và
phải thông thoáng (dùng con tiện sứ, gạch lỗ hoa, …) để nhanh thoát khí
nóng ưẽn mái.
Tường chân mái bằng thường xây bằng gạch, dày 110 mm hoặc tốt nhất nên đặt con tiện sứ và bổ trụ cách nhau 2,0 – 3,0 m như ờ hình 3.138a. Một kiểu tường chắn mái dốc (ngói) như ở hình 3.138b.
Tường chắn mái thường xuyên chịu mưa nắng nên phải trát vữa mac > 25. Đỉnh tường chắn mái nên dốc vào phía trong mái để tránh nước chảy ra ngoài làm bẩn tường.
12. Tường thu hồi thường dùng khi có mái dốc. Khi nhà cấp rv có thể dùng tường thu hồi dể đỡ và xà gồ và không cần kèo (Các nhà cấp I,
n, m xem ở mục 3.3.13.2).
Tường thu hồi thường xây bằng gạch, đá và với góc nghiêng phụ
thuộc góc nghiêng của mái,
Tường thu hồi của nhà cấp rv nên là tường 110 mm có bổ trụ đúng chỗ đật xà gồ (h.3.139a), nên làm cửa thông gió (h.3.139b) vừa tiết kiệm vật liệu, vừa thoáng mát và nên xây giật cấp lớn (h.3.139c).

Thiết kế tường - P2 1
Hình 3.139

13. Tướng khu phụ (bếp, xí, tắm) thường xuyên chịu ẩm ướt nên cần xây -bằng vữa xiinăng – cát mac > 50. Tường khu phụ thường xuyên phải lau chùi, do đó nên ốp gạch men kính, đôi khi người ta còn quét sơn
dầu. Tường bếp nên ốp cao > 0,5 m ưên bê bếp. Tường buổng xí nên ốp cao > 1,2 ra. Tường buồng tắm nên ốp cao > 1,6 m.
13. Tường rào (xem ở mục 32.9.1).
14. Tường gạch dược dùng rất phổ biến khi xây dụng nhà ở gia đình. Tường gạch chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng giá thành nhà, do vậy cần chọn loại gạch có hiệu quả, chọn phương án kết cấu và cấu tạo hợp lý. Gạch là vật liệu địa phương rất sẩn, rẻ, cách nhiệt và cách âm đều tốt, lại hầu như không độc hại.
Tường gạch có chiều dày quy định theo kích thước viên gạch đất sét nung tiêu chuẩn 220 X 105 X 60 mm.
Theo chiều dày, tường gạch có các loại sau đây:
a! Tường 60 mm còn goi là tường sáu, tường — gach, xây theo chiều
4
dày mặt cạnh viên gạch, dùng ở tường trong, tường lấp khung,… Tường 60 mm không được xây cao quá 3,0 m và dài quá 4,0 m (nếu muốn dài thì phải bổ trụ). Tường phải xây bằng vữa mac > 50 và kỷ thuật xây dảm bảo.
b/ Tường 110 m còn gọi là tường mười, tường nửa gạch, tường con kiến,… xây theo chiểu dày mặt nằm viên gạch. Tường 110 mm không được làm tường chịu lực, chỉ làm tường trong, tường lấp khung, tường nhà cấp IV,… Tường 110 mm xây vữa mac > 25.
c/ Tường 220 mm còn gọi là tường dôi, tường một gạch, dùng làm tường chịu lực nhà 1-2 tầng và tường không chịu lực nhà > 3 tầng, tường phía Tây,… Tường 220 mm xây vữa mac > 10.
d/ Tường 335 mm còn gọi là tường một gạch rưỡi, dùng làm tường chịu lục, tường hồi, tường phía Tây, tường tầng hầm,…
e/ Tường 450 mm(1) và các tường dày hơn thường chỉ dùng xây móng
(gạch).
Một số loại tường gạch như ờ hình 3.140: a/ tường 60 mm, b/ tường 110 mm; c/ tường 220 mm; d/ tường 335 mm; e/ tường 450 mm.

Tường xây gạch silicat phải dày > 250 mm (một gạch) và các mảng tường giữa các lỗ cửa phải có chiều rộng > 1000 mm. Tường xây gạch silicat phải xây bằng vữa mac > 25.
16. Tường đá xây ở nhũng nơi sần đá nhưng cũng chỉ xây tường tầng hầm, tầng 1 và tầng 2 của nhà hai tầng, vì khối lượng thể tích của đá lớn. Tường có thể xây bằng đá hộc, đá ba, đá chẻ, đá ong,… Hình 3.141 trình bày một số loại tường xây bằng đá: a/ chiều dày tường khác nhau; b/ tương đá hộc thô; c/ tường đá hộc phẳng (có gia công mặt) kết hợp với
ơ> Cách gọi trên đảy là theo bôi số kích thưóc của gạch tiêu chuẩn, thục tế kích thước tường còn phải cộng thêm chiều dày các lớp vữa (mạch vữa và lớp
trát).
đá đẽo; d/ tường đá đẽo; e/ tường đá xếp khan; f/ tường đá hộc xây không thành lớp; g/ tường đá hộc xây cùng với gạch.

Hình 3.141
Tường xây bằng đá hộc có chiều dày 400 – 800 mm. Không nên xây tường đá hộc cao quá 10 lẩn chiều dày tường.
Tường xây bằng đá ba (đá ba lát) có thể xây cao dến 4,0 m, dày 220 – 250 mm. Có thể xây hoàn toàn bằng đá ba hoặc kết hợp với gạch.
Tường xây bằng đá chẻ có chiều dày 100 mm thì phải bổ trụ 220 X 220, 250 X 350 (mm), với tường dày 220 mm thì phải bổ trụ 220 X 350, 220 X 450 (mm). Khi xây nhà một tầng có hai gian nhung không có tường ngãn thì tường xây bằng đá chẻ phải bổ trụ 335 X 335 (min) để đỡ
kèo. Khi đá chẻ mac > 50 thì dùng vữa mac > 25, khi đá chẻ mac 25 – 35 thì dùng vữa mac < 25 (đến 4).
Tường xây bằng đá ong dùng vữa vôi – cát. Có thể dùng vữa dất sét. trộn cát để xây tường đá ong, tất nhiên sẽ kém bền so với vữa vôi, do vậy chỉ nên xây tường hàng rào. Tường đá ong không nên trát mặt phía ngoài, khi đó dùng mạch vữa nổi để trang trí và tránh sứt mẻ, bào mòn cạnh đá,
ãn lõm mạch vữa.
Mặt trong của tường đá ong nên trát cho sạch.
Vữa để gắn mặt và trát tường đá ong dùng mae > 10.
17. Tường cay xây bằng gạch cay (đất hoặc xỉ lò vôi).
Tường cay đất chân rộng 600 mm, móng đặt sâu 200 – 400 mm, chân tường cao 800 mm (h.3.142). Thân tường dày 200 mm, cao 1200 – 1500 mm. Tường cay đất xây bằng vữa đất sét hoặc vữa đất sét trộn vôi. Tường cay đất dùng xây nhà một tầng và nhà tạm.
Tường cay xỉ lò vôi có cấu tạo như tường cay đất. Nếu xây thân tường bằng gạch đất sét nung càng tốt. Tường cay xỉ lò vôi có thể xây tường chịu lực (kết hợp với gạch), xây vách ngân. Tường cay xỉ lò vôi xây bằng vữa vôi – cát, vôi – cát – đất sét. 
Tưòng cay trát ttịặt bằng vữa Vôi – cát. Tường cay không dùng noi ẩm ướt và nơi có nhiêt độ cao.