Thiết kế tường – P1

Tường là bộ phận thẳng đứng để:
– Đỡ sàn;
– Chịu lực và truyền lực xuống móng;
– Bao che (chắn gió, che mua nắng,…);

– Ngăn cách (giữa các phòng, với bên ngoài,…);
– Cách nhiệt;
– Cách âm;
– Tạo không gian;
– Tạo độ cứng và ổn định cho nhà;

Thiết kế tường - P1 1

Các bộ phận của tường gồm: chân tường, thân
tường, đỉnh tường,… (h. 3.132).
Ngoài ra còn các bộ phận liên quan: giằng tường, gờ (nấc) tường, hốc tường, tủ tường, vòm tường, gối lựa,…

A. Các loại tường
Theo tính chất chịu tải trọng (lực) có: tường chịu lực, tường không chịu lực (tường cấu tạo, tường tự mang), tường treo,…
Theo công dụng có: tường ngoải (tường bao che), tường trong (tường ngăn cách), tường lấp khung (tườrig chèn khung), tường móng, tường tầng hầm, tường chắn nển nhà, tường vượt mái, tường thu hồi, tường khu phụ, tường bao (tường rào),…
Theo vật liệu có: tường gạch, tường đá, tường bêtông, tường bêtông cốt thép, tường cay, tưòng trình, tường đắp, vách vôi – rơm, vách phên,… 
Theo cấu tạo có: tường đặc, tường rỗng, tường nhiều lớp,…
Theo phương pháp thi công có: tường toàn khối (tường khối), tường lắp ghép.
Ngoài ra còn tường bổ trụ (trụ liền tưòng), tường cong, tường có trát, tường không trát,…

Sau đây sẽ nói một số loại tường:
1. Tường chịu lực là bô phận chính chịu lục của nhà. Như đã nói ờ mục 3.3.2, kết cấu tường chịu lục chỉ nên dùng khi nhà có khẩu độ nhỏ, chiểu cao < 5 tầng (để cho an toàn thường chỉ dùng cho nhà < 3 tầng), chỉ chịu tải trọng thẳng dứng, không chịu tải trọng nằm ngang (gió bão, động đất,…). Khi dùng sơ đồ kết cấu tường chịu lực trong nhà ờ gia đình, chỉ nên dùng tường ngang chịu lực.
Tường chịu lực có thể là tường gạch, tường dá (dôi khi có dặt cốt thép), tường bêtông, tưòng bêtông cốt thép,… nhung trong nhà ờ gia đình thường chỉ dùng tường gạch – đá. Tường chịu lực bằng gạch – dá phải xây bằng vữa ximăng – cát hoặc vữa tam hợp có mac:
> 10 – khi xây bằng gạch đất sét nung;
> 25 – khi xây bằng gạch silicat;
> 50 – khi xây, bắng đá.
Tường chịu lực xây bằng gạch đất sét nung đặc hoặc gạch hai lỗ tròn dọc loại A hoặc gạch silical nhưng mac phải > 75.
Tường chịu lực có chiều dày > 220 mm và thường có giằng (xem ờ mục 3.3.7 B7).
2. Tường không chịu lực còn gọi là tường cấu tạo, tường tự mang. Tường khống chịu lực chỉ chịu trọng lượng bản thân (xem thêm tường trong).
3. Tường treo là tường được đỡ bởi dầm đỡ tường (1) gác lên cột
(h. 3.133).
Tường treo dược dùng khi cần mở rộng phòng ở tầng dưới hoặc mở rộng cửa đi.
Tường treo có thể xây tường dày 60 mm khi diện tích mảng tường nhỏ, chẳng hạn 800 X 1500 mm; xây tường 110 mm khi diên tích mảng tường lớn, chẳng hạn 2000 X 3000 mm.
Cửa sổ ở tường treo nên đặt ờ giữa tường treo (giữa nhịp của dầm đỡ tường). Tại vùng tường treo phía trên gối tựa (h.3.133) bị nén cục bộ nên cần phải gia cường bằng cách dặt cốt thép.

Thiết kế tường - P1 1

Hình 3.133
m Dầm đỡ tường thường bằng bêtông cốt thép, đỏi khi dùng thép hình.
Chiều cao d của mảng tường dưới cửa sổ phải < — khẩu độ dầm đỡ tường.
4. Tường ngoài còn gọi là tường bao che, tường bao quanh, có tác dụng bao che cho nhà, cách ly ảnh hưởng của môi trường thiên nhiẽn, do vậy cần đảm bảo các yêu cầu vé chống mưa nắng, gió, thay đổi nhiệt độ,… Tường ngoài còn phải có khả năng chống cháy.
Tường ngoài nên xây tường 220 mm (tường đôi), nhất là tầng 1 (nhà một tầng thì ít nhất có hai tường hồi xây tường 220 mm). Các tường ngoài không có bancông, mái hắt,… che ở trên, tường ngoài về phía Tây, Tây Nam cần xây tường 220 mm. Tường ngoài phải xây bằng gạch đất sét nung loại A hoặc loại B, không được xây bằng gạch có lỗ (kể cả tường 220 mm) để tránh thấm.
Muốn thay dổi chiều dày tường ngoài, thực hiện theo các cách sau
đây:
– Để phẳng mặt ngoài, thu phía trong từ chân tường (h.3.134a);
– Thu phía ngoài từ chân tường (h.3.134b);
– Thu phía ngoài từ bậu của sổ (h.3.134c).
Đối với nhà khung, vị trí tường ngoài có ba trường hợp sau đây:
1. Tường xây ngoài côt: Thi công thuân tiện, có lợi về mặt chịu lực, vì có thể cân bằng một phần mômen của dầm chính ờ phía trong nhà, nhưng cột chiếm diện tích hữu ích và không mỹ quan.
2. Tường xây trong cột: Thường dùng nhất nhung thi cổng phức tạp.
3. Cột lồi phía trong 150 – 200 mm: Cũng thường dùng nhung thi công phức tạp.

Thiết kế tường - P1 1

Tường ngoài xây bằnị vữa ximăng – cát hoặc vữa tam hợp, với mac thấp nhất như ở bảng 3.7.
Bảng 3.7

Thiết kế tường - P1 1

Hiện nay, người ta hay dùng vữa ximãng – cát, ít khi dùng vữa tam hợp.
Mặt tường ngoài cần trát phẳng, nhẵn để tránh bụi bám, nếu có điều kiẹn thì nên sơn để chống bụi và có thể lau rửa được. Vữa trát nên dùng mac 10 – 25.

5. Tường trong còn gọi là tường ngăn. Tường trong cũng có thể là tường chịu lục, nhung thường dùng để phân chia, tạo không gian trong nhà.
Tường trong thường là tường 110 mm. Tường trong có thể là tường 220 mm, tường 60 mm hoặc vách. Khi tường trong ở tầng dưới là tường 220 mm, tầng trên là tường 110 mm, hoặc tường 60 mm thì thay đổi chiều dày như ở hình 3. 135: a/ thu vào cả hai phía tường (giữ nguyên trục đứng của tường), b/ thu vào một phía tường.

Hình 3.135
Tường trong không chịu lực xây bang gạch dất sét nung đặc loại B, gạch dất sét nung > 4 lỗ loại A hoặc loại B, hoặc gạch không nung, nhưng thường xây bằng gạch có lỗ. Nếu muốn tường cách âm thì xây gạch đất sét nung > 6 lỗ dọc.
6. Tường cong được dừng ở nơi góc nhà cần vát để đảm bảo tầm nhìn giao thông tại góc đường (ngã ba, ngã tư), hoặc do mật bàng lô đất Xây dựng, hoặc do yêu cầu mỹ quan của kiếh trúc.
7. Tường lấp khung còn gọi là tường chèn khung, là tường xây gạch lấp mặt phẳng khung trong nhà khung chịu lực.
Tường lấp khung có thể là tường ngoài hoặc tường trong.
8. Tường bổ trụ còn gọi là tường liên trụ, là tường có gia cường thêm bằng cách bổ các trụ lẫn một phần vào chiều dày của tường. Như vậy tường và trụ cùng chịu lực, do dó sề chịu lực tốt hơn và ổn định hơn. Thực chất tường bổ trụ là cột liền tường, do vậy phải tạo thành một khối đồng nhất. Có thể bổ trụ chỉ là để phân chia mặt nhà theo yêu cầu mỹ quan của kiến trúc.
Các trụ thường cách nhau 2,0 – 3,0 m nhưng để tránh bão, người ta bổ trụ cả theo gian nhà, cả hai bên cửa, làm cho các trụ gần nhau hơn.
Tường bổ trụ bằng gạch thường có các loại: a/ tường (1) 110 mm, trụ 1 gạch; b/ tường 110 mm, trụ 1 gạch rưỡi; c/ tường 220 mm, trụ 1 gạch rưỡi; d/ tường 220 mm, trụ 2,5 X 1,5 gạch; e/ tường 335 mm, trụ 2 gạch; f/ tường 335 mm> trụ 2,5 X 2 gạch.
Tường bổ trụ bằng đá chè nói ở tường xây bằng đá chẻ.
Tường bổ trụ nên xây bằng vữa ximăng – cát mac > 50, vữa trát như tường thông thường.
m Xem ở mục 3.3.7A15.