Thiết kế móng – P5

c/ Móng cọc bêtông cốt thép rất thông dụng trong xây dựhg, kể cả nhà ở. Tuy vậy ưong Xây dựng nhà ở gia dinh khi thật cần thiết mới dùng và cũng chỉ dùng loại tiết diện nhỏ. Cọc bêtông cốt thép tiết diện nhỏ thường là cọc đặc, hình vuông, có thể đóng dến 16 m. Tiết diện cọc bêtông cốt thép tiết diện nhỏ có kích thước 150 X 150, 200 X 200 mm, dược đúc sẵn (có thể chia thành từng doạn để dễ dúc, vận chuyển, ép ở những nơi chật hẹp). Nếu có cọc bằng bêtông cốt thép ứng suất trước thì tốt hơn. Mac bêtông dùng cho cọc bêtông cốt thép > 250.
c. Chọn loại móng và kích thước móng
Yêu cầu đối với móng nhà là phải:
1. Kiên cố, tức là kích thước phù hợp với yêu cầu chịu lực, đảm bảo vật liệu làm móng và nền làm viộc bình thường.
2. Ổn định, tức là sau khi xây dựng xong nhà, móng phải lún đểu và trong phạm vi cho phép, không bị trượt, xô ngang, lật đổ,…
3. Láu bén, tức là phải bền vững (không bị vỡ, gãy, xuất hiện vết nứt hoặc phá hỏng,…) trong thời gian sử dụng lâu dài. Muốn vậy, vật liệu làm móng, lớp bảo vệ móng phải có khả năng chống lại dược sự phá hoại của môi trường ngầm dưới đất, dưới nước nơi xây dựng.
Việc chọn loại móng và kích thước móng thường dựa vào các yếu tố sau đây:
1. Tình hình địa chất cồng trình, địa chất thủy vãn của nền (khả năng chịu tải, chiều sâu của lớp nền chịu lực, mực nước ngầm,…)
2. Trị số tải tròng của nhà (nhà cao hay thấp), sơ đồ và tính chất truyền tái lên nển,…
3. Hình thức kết cấu nhà, hình dạng mặt bằng nhà,…
4. Việc bố trí các công trình ngầm (tầng hầm, ống dẫn nước, …) và chiều sâu đặt móng của các công trình liền kề.
5. Điều kiện xây dựng móng (phương tiện thi công, thời gian xây dựng móng,…).
6. Điều kiện vật liệu (giá cả, có sẵn hay phải vận chuyển từ xa dến,…).
Trong sáu yếu tố nêu ưên thì hai yếu tố 1 và 2 là quyết định.
Trong yếu tố 1 phải tuân theo các quy tắc sau đây:
la/ Chọn lớp nền chịu lực phụ thuộc vị trí, trạng thái vật lý của nó, phương pháp xây dụng móng, trị số độ lún giới hạn và sự ổn định của nền.
lb/ Phải đặt móng vào lớp nền chịu lực nhưng không quá sâu.
lc/ Lớp nền chịu lực dưới đáy móng phải đủ dày.
ld/ CỐ gắng dặt mõng (đáy móng) cao hơn mực nước ngầm để giữ nguyên kết cấu của nền và khổng phải bơm nước.
le/ Khi dáy móng thấp hơn mực nước ngầm thì phải có biện pháp giữ nguyên kết cấu của nền khi đào hố móng và xây móng.
Trong yếu tố 5 thì tùy’phương pháp thi công móng mà kết cấu của nền có thể bị phá hoại đến một mức độ nào đó. Nếu dùng phương pháp thi công mà không thể đảm bảo giữ nguyên kết cấu của nển khi đào hố
móng thấp hơn mực nước ngầm thì nên lấy chiều sâu đặt móng tối thiểu cho phép và lấy diện tích đáy móng lớn nhất.
Khi thiết kế móng phải tuân theo các quy định ở TCN 21 – 1986 và TCN 40 – 1987. Điều 1.2 của TCN 21 – 1986 quy định: “Việc lựa chọn kết cấu móng phải xuất phát từ các điều kiên cụ thể của nơi xây dựng, được đặc trưng bằng tài liệu về địa chất công trình, trên cơ sở các kết quả so sánh kinh tế – kỹ thuật các phương án có thể của những giải pháp thiết kế móng, theo yêu cầu của các nguyên tắc kỹ thuật và tiết kiệm vật liệu”.
/. Chọn loại móng theo yếu tố 1 như sau:
1. Nếu nền tốt (sơ đồ 1, hình 3.69a), có thể dùng móng gạch xây, đá xây, bêtông đá hộc cho nhà đến 3-4 tầng (móng đá ong chỉ xây nhà đến 2 tầng).
2. Nếu nền có tầng đất yếu rất dày (sơ đồ 2, hình 3.69b) thì xử lý rất phức tạp, tốn kém và khó an toàn. Thông thường người ta phải làm móng bè với cọc ma sát đóng xuống sâu, có thể dùng biện pháp xử lý nền bằng cách làm chặt đất dưới sâu, không dùng cách làm chặt đất ưên mặt, không dùng đệm đất, đệm cát. Tất nhiên trong trường hợp này thì nên dùng nhà khung.
Có thể dùng cách đơn giản như sau để xây nhà dến hai tầng trên nền
có sơ đồ 2:
– Đào hố móng bè sâu ít nhất 1 500 mm;
– Rải tre, tràm thành hẹ Lưới nằm ngang;
– Làm lớp đệm đất lên.
3. Nếu là nền có lớp trên yếu, dưới là nền tốt (sơ đồ 3, hình 3.69c) thì:
3a/ Khi lớp đất yếu mỏng (< 1500 mm): Thay lớp đất yếu bằng đêm cát, đệm đất hoặc làm chặt đất trên mặt và coi như sơ đồ 1.
i 7-STNLN
3b/ Khi lớp đất yếu không dày (1500 – 3000 mm): Thay lớp đất yếu bằng đệm cát, đệm đất, nếu không thay hết được thì phải đóng cọc tre, cọc tràm.
Nếu móng khô, đất rỗng thì nên dùng biộn pháp làm chặt trên mặt bằng đầm hoặc tải trọng tĩnh.
Trường hợp này có thể làm móng băng.
3c/ Khi lớp đát yếu dày (> 3000 mm): tương tự sơ đồ 2.
3d/ Khi lớp đất yếu có chiều dày thay đổi lớn, có thể dùng:
– Móng băng có chiều dày móng thay đổi, tức là phần đất yếu dày hơn thì đặt móng sâu hơn (h.3.113).

Thiết kế móng - P5 1

Hình 3.113
– Móng băng có chiều rộng móng thay dổi, tức là phần đất yếu dày hơn đặt móng rộng hcm (h.3.114).
– Móng bâng đặt trong lớp đất tốt nhưng tại các cao trình khác nhau
(h. 3.115). * ‘
– Móng bảng có COC (h.3.116).
– Móng cọc ở phần lớp đất yếu có chiều dày lớn (h.3.117).
4. Nếu là nén có lớp trên tốt. dưới là nền yếu (sơ đồ 4, hình 3.69d) thì:

Thiết kế móng - P5 1

4b/ Khi lớp nên tốt không dày (1500 – 3000 mm): Chỉ nên xây nhà đến hai tầng (dùng móng bè, nhà khung). Nếu muốn xây nhà > 2 tầng thì xử lý phức tạp, tốn kém (tương tự sơ đổ 2).
Trường hợp này không được đặt móng sâu và không nên dùng móng
cọc.
4c/ Khi lớp nền tốt dày (> 3000 mm): Tận dụng lóp nền tốt, không nên đặt móng sâu, chỉ nên xây đến ba tầng (dùng móng bè, nhà khung).
2. Chọn chiều sâu đặt móng là chọn lớp nền có đủ điều kiện về cường đô và điều kiện mực nước ngầm để đặt móng. Chiều sâu đặt móng phải đủ để giữ ổn định, chống xô ngang và chống lật đổ nhà.
Khi nhà xây ưên nền đất thì móng phải đặt sâu > 500 mm (kể từ mặt đất tự nhiên đến đáy móng) để tránh lớp đất phong hóa.
Về mặt kinh tế, móng càng đặt nông càng tốt, nhưng móng đặt sâu sẽ hạn chế được lún và lún lệch, do vậy phải so sánh kinh tế – kỹ thuật để chọn chiều sẫu đặt móng. Thông thường, như đã nói ở trên, chiều sâu đặt móng chủ yếu do tình hình nền, tức là điều kiên địa chất công trình và dịa chất thủy văn quyết định.
Đối với điều kiện địa chất công trình, địa chất thủy văn và tải ưọng đã có, phải chọn chiều sâu đặt móng nhỏ nhất nhưng thỏa mãn các yêu cầu đã nêu ờ trên. Thông thường người thiết kế đưa ra vài ba phương án đặc trưng về loại móng và chiều sâu đặt móng để so sánh về chi phí vật liệu, chỉ phí lao động,… để chọn.
Khi phải dùng chiều sâu đặt móng khác nhau thì phải làm bậc (h.3.118). Với nền tốt thì tỷ số giữa chiều cao và chiều rộng của bậc < 1 : 1 và chiều cao một bâc b < 1000 mm. Với nền yếu thì tỷ số đó < 1: 2 và b < 500 mm. Trong các trường hợp thì chiều dài mỗi đợt giạt đểu không nên nhỏ hơn 1000 mm.