Thiết kế móng – P2

B. Các loại móng
Móng là bộ phận kết cấu nằm dưới cùng của nhà, thường nằm trong đất hoặc nước, để truyền toàn bô tải trọng của nhà lên nền và phân phối tải trọng đó trên diện tích sao cho độ lún của nhà không vượt quá các trị số giới hạn và đảm bảo sự ổn định của nhà. Trong các bộ phận của nhà thì móng quyết định sự bền vững, thời gian sử dụng, giá thành,… của nhà và nếu hỏng móng thì rất khó khăn, tốn kém khi sửa chữa, nhiều khi phải dỡ bỏ cả nhà để xây lại.
1. Theo chiều sâu đật móng, có: móng sâu và móng nông.
Móng sâu là móng được hạ sâu xuống nền và có thể lấy đất từ móng lên. Móng cọc, móng giếng chim, móng giếng chìm hơi ép thuộc loại móng sâu. Trong nhà ở gia đình không dùng móng giếng chìm và móng giếng chìm hơi ép.
Móng nông xây dụng trong hố lộ thiên, sau đó lấp đất lại.
2. Theo hình dạng trên mặt bằng, có: móng đơn, móng bang yầ móng
bè.
3. Theo vật liệu làm móng có móng gạch xây, móng đá xây, móng bê tông đá hộc, móng bê tông, móng bê tông cốt thép, ìnóng thép,…
4. Theo tính chất làm viêc của móng, có: móng cứng và móng mềm.
5. Theo cách làm (thi công), có: móng liền khối (xây hoặc đổ tại chỗ) và móng lắp ghép.
Bây giờ ta nói cụ thể từng loại móng:

1. Móng cứng
Móng cứng là loại móng mà biến dạng của nó không kể đến khi xác định áp ỉực tại đáy móng. Móng cứng chịu nén tốt nhung chịu kéo và chịu uốn kém. Móng cứng làm bằng gạch xây, đá xây, bêtông đá hộc, bêtông, bêtông ít cốt thép (đôi khi),… Móng bêtông, móng bêtông ít cốt thép rất ít khi dùng, vì không kinh tế. Móng cứng có thể là móng đơn hoặc móng bãng.
Do cường độ chịu nén của đất nền thường nhỏ hơn cường độ chịu nén của móng cứng nên chiều rộng của đáy móng cứng phải lớn hơn kích thước tiết diên của kết cấu bên trên. Lục nén truyền từ kết cấu bên trên xuống đáy móng theo góc a (h.3.73), gọi là góc cứng hay góc truyền lực, góc khuếch tán ẳp lực trong vật liệu. Trong phạm vi góc a, móng cứng không thể bị phá hoại bởi ứng suất kéo hay trượt. Để tiện cho thi công, móng cứng thường có mặt cắt hình bậc. Tỷ số giữa chiều cao và chiều rộng bậc không dược nhỏ hơn trị số cotg a. Trị số của a phụ thuộc vật liệu làm móng.
Đỉnh móng cứng thường làm rông hơn kết cấu bên trên (tường, cột) mỗi bên > 50 mm.
Chiểu sâu đặt móng cứng ngoài việc thỏa mãn yêu cầu về góc a, còn phái căn cứ vào tình hình địa chất công trình và địa chất thủy văn cụ thể của nền, nhưng trong bất cứ trường hợp nào (trừ nền đá và nền xử lý bằng đệm cát) đều không được < 500 mm so vói mặt đất thiên nhiên. 
a/ Móng gạch xây
Không dùng móng gạch xây khi nền yếu. Khi nền tốt có thể xây móng gạch cho nhà đến ba tầng. Móng gạch xây thích hợp với điều kiện thi công thủ công, gạch sẵn và rẻ.
thiết kế móng gạch xây phải tuân theo TCXD 42 – 1970 và phải đảm bảo các yêu cầu đối vói móng.
Cấu tạo móng gạch xây như ờ hình 3.76.
Chiều rộng đỉnh móng gạch xây phải rộng hơn kết cấu bên trên (chân tường hoặc chân cột) một cấp, chẳng hạn tường 220 mm thì đỉnh móng rộng 335 mm (một gạch rưỡi).
Chiều rộng đáy móng phải > 500 mm.
Do góc a của gạch xây nhỏ (< 30°) nên móng gạch xây cần chiều sâu chứ không cần chiều rộng.
Chiều cao mỗi bậc lấy theo chiều dày 2-3 hàng gạch. Chiều rộng mỗi bậc lấy theo góc a.
Thông thường người ta lấy chiều cao các bậc là 70, 140, 70, 140,…
(h.3.76) hoặc lấy đều 140. Chiều rông mỗi bậc trung bình mỗi bên rộng 1 ‘
hơn bậc trên > —chiểu 4
dài viên gạch.

Thiết kế móng - P2 1

Gạch xây móng phải là gạch đặc (không có lỗ) bang đất sét nung, loại A hoặc loại c, không dùng gạch silicát hoặc các loại gạch không nung khác. Gạch xây móng phải có mac > 75.
Móng gạch xây bằng vữa ximăng – cát hoặc vữa tam hợp, với mac thấp nhất như ờ bảng 3.4.
Bảng 3.4

Thiết kế móng - P2 1

b/ Móng đá xảy
Ở những nơi sẩn đá nên xây móng bằng đá (tốt hơn móng gạch xây). Chỉ xây móng đá khi nền tốt và cũng chỉ dùng cho nhà đến bốn tầng, không xây móng đá trên nền yếu.
Đá xây móng được khai thác từ mọi loại đá thiên nhiên nhưng thường dùng loại đá có khối lượng thể tích > 2200 kg/m3. Các loại dá vôi, đá vỏ sò, đá catkêt, đá ong chỉ dùng làm móng ở những nơi nền tốt, khô ráo và cũng chỉ dùng cho nhà 1-2 tầng.
Khi dùng đá ong thì dùng các viên đá thăn (già), màu nâu tía, nâu đen, đặc, cứng, đã khai thác > 6 tháng.
Đá dùng xây móng phải không bị phong hóa, không bị nứt nẻ, không bị rỗng xốp, không lẫn các lớp sét. hay vôi sét, có mac và độ hút nước theo yêu cầu của thiết kế nhung độ hóa mềm ít nhất phải bằng 0,7, mac > 200.
Viẽn đá xây móng không nên nặng quá 20 kg.
thiết kế móng đá xảy phải tuân theo TCXD 42 – 1970 và phải đảm bảo các yêu cầu đối với móng.
Cấu tạo móng đá xây như ở hình 3.77.
Chiều rộng đình móng đá xây phải > 220 mm và phải rộng hơn kết cấu bên trên 100 – 150 mm. Chiều rộng đế móng phải > 500 mm. Chiều cao đế móng đá xây có quy cách phải 400 – 500 mm, đá xây không quy cách phải 600 – 700 mm. Khi đá có quy cách thì chiều cao mỗi bậc nên phù hợp với chiều cao 1 – 2 lóp đá xây (300 – 600 mm), chiều cao bậc cuối cùng (đế móng) nẽn 400 – 500 mm. Chiều rộng bậc dưới rộng hơn bậc trên 50 – 150 mm. Người ta thường lấy chiều cao bậc gấp đôi chiều rộng bậc.

Thiết kế móng - P2 1

Nếu móng xây bằng đá không quy cách thì tiết diện móng thường theo dạng hình thang với a < 30° chứ không xây bậc.
Khi móng xây bằng đá không quy cách thì giữa thân móng và cổ móng cần có lóp vữa ximăng – cát mac > 50 để làm phẳng.
Vữa xây móng đá như vữa xây móng gạch (bảng 3.4). c/ Móng bêtông đá hộc
Chỉ dùng móng bêtông đá hộc khi nển tốt và cũng chỉ dùng cho nhà đến bốn tầng, không dùng khi nền yếu.
Góc a của móng bêtông đá hộc < 34°.
Đá hộc có thể chiếm 30 – 50% thể tích móng.
Mac bêtông đá hộc làm móng như ở bảng 3.5.
Bảng 3.5

d/ Móng bétông
Chỉ dùng móng bêtông khi nển tốt và cũng chỉ dùng cho nhà đến bốn tầng, không dùng khi nền yếu. Tuy vậy móng bêtông đá hộc cũng không ưu việt hơn hẳn móng gạch xây, đá xây hoặc móng bêtông đá hộc mà lại
dắt nên rất ít dùng.
Góc a của móng bêtông < 45°.
Thiết kế móng bêtông phải tuân theo TCXD 41 -1970.
Cấu tạo của móng bêtông như ở hình 3.78.
Mac bêtông cho móng bêtông như ở bảng 3.6.
Bảng 3.6

2. Móng mềm
Móng mềm là loại móng mà biến dạng của nó có kể đến khi xác định áp lực tại đáy móng. Móng mềm chịu nén, chịu kéo và chịu uốn đều tốt. Móng mềm làm bằng bêtông cốt thép, thép,… Trong nhà ờ gia đình, móng thép rất ít khi được dùng, vì rất đắt và dễ bị ăn mòn.
Khi thiết kế móng bêtông cốt thép phải tuân theo TCXD 41 – 1970 và đảm bảo các yêu cầu đối với kết cấu móng.
Móng mềm có thể dùng cho móng dơn, móng băng hoặc móng bè. Kích thước móng mềm sẽ nói cụ thể ở các loại móng này.
Cốt thép chịu lực của móng mềm đặt theo tính toán. Khi muốn nối với kết cấu bêtông cốt thép bên trên, cần phải có cốt thép chờ đủ, đặt trước ở móng mềm.
Chiều dày lớp bêtông bảo vệ cốt thép trong móng mềm lấy như sau: 50-70 mm – khi không có lớp lót bằng bêtông gạch vỡ;
30 – 40 mm – khi có lớp lót bằng bêtông gạch vỡ.
Móng mềm thường được dùng khi nhà có tải trọng lớn và trong mọi trường hợp nền yếu.
So với móng cứng thì móng mềm có ưu điểm là giảm nhiều chi phí dào đắp hố móng và đảm bảo ổn định theo phương dọc nhà nếu cốt thép
dọc cấu tạo được bố trí hợp lý.