Thiết kế móng – P1

A. Các bộ phận của móng
Móng nhà gồm có các bộ phận sau dây:
1 – đỉnh móng (mặt móng) là mặt nằm ngang tiếp xúc giữa móng và kết cấu bên trên; 2 – gờ móng là phần nhô ra của đỉnh móng; 3 – cổ móng
(1> Có thể bằng vữa tam hợp nhơng không bền bằng vữa ximăng. 
(tuừng móng) là phần trên của móng, có tiết diện chữ nhật; 4 – thân móng (bệ móng, tảng móng), 5 – đế móng; 6 – dáy móng là mặt nằm ngang tiếp xúc giữa móng và lớp lót; 7 – lớp lót (lớp đệm, tảng lót) là lớp giữa đáy móng và nền; 8 – lớp bảo vệ (h.3.73).
Đình móng nên đặt thấp hơn mặt nền nhà 100 – 200 nun. Chiều rộng đỉnh móng
thường rộng hơn kết cấu bẽn trên (tường, cột), tức là có gờ móng để dẽ dàng thi công kết cấu bên trên.
Khi chiều sâu đặt móng lớn thì thân móng nên làm hình bậc hoặc hình thang để mở rông đáy móng.
Đế móng là bộ phận chịu lực chính của móng, có chiều cao tối thiểu 400 mm.
Lớp lót dưới đáy móng có tác dụng để tải trọng truyền đểu lên nền, làm phẩng, làm khô và chống ẩm cho đáy móng. Lớp lót này rộng hơn đáy móng mỗi bên > 50 mm. Cấu tạo lớp lót như sau:
– Nếu nền yếu thì dùng bêtông gạch vỡ (bêtông sỏi hoặc bêtông đá dăm càng tốt) mac 50, dày 100 – 150 mm (rải đều, đầm kỹ). Nếu có nhiểu gạch vỡ thì có thể thay bậc móng cuối cùng bằng bêtông gạch vỡ dày 200 mm, rộng bằng chiều rộng móng (khi đó không cần lớp lót). Nếu
không có gạch vỡ, có thể chỉ dùng vữa ximãng – cát. hoặc vữa tam hợp mac 50, dày > 50 mm.
– Nếu nền tốt, sau khi bóc nốt lớp dất nền dể lại khi dào móng, dọn sạch hố móng, đầm chặt thì có thể chỉ cần đổ lớp cát đen, tưới nước, đầm kỹ, dày 50 – 100 mm.
– Nếu nền bão hòa nước thì dùng cát hoặc đá dăm (sỏi) càng tốt, đổ dày 100 – 150 mm, đầm chặt hoặc tốt nhất là đổ lớp cát dày 30 – 50 mm đầm chặt, rồi đổ lớp vữa tam hợp mac 25, sau cùng mới đổ lớp bêtông gạch vỡ như ưên.
Để bảo vệ đỉnh móng và chống ẩm cần có lớp bảo vê. Khi không có dầm móng hoặc giằng móng thì trên đỉnh móng cần có lớp vữa ximãng – cát mac 75, dày > 20 mm, rộng bằng chiều rộng kết cấu bên trên. Lớp này còn có tác dụng chống trượt, bảo đảm liên kết tốt giữa móng và kết cấu bên trên, vì vậy phải rải lớp vữa này khi bắt đầu xây kết cấu bên trên (nhớ làm sạch và tưới nước đỉnh móng trước lúc rải lớp vữa này).
Khi đỉnh mộng cao hơn mặt đất, lớp bảo vệ như ờ hình 3.74a, khi đình móng thấp hơn mặt đất thì lớp bảo vệ như ở hình 3.74b.

Thiết kế móng - P1 1
Hình 3.74

Thiết kế móng - P1 1

Hình 3.75

Với nhà có tầng hầm thì lớp bảo vộ móng như ở hình 3.75: a/ khi mực nước ngầm (MNN) thấp hơn mặt nển tầng hầm; b/ khi MNN cao hơn mặt nển tầng hầm một ít; c/ khi MNN cao hơn mặt nền tầng hẩm hẳn và d/ khi MNN có côt nước áp lớn; 1 – lớp chống ẩm (cách nước); 2 – lớp bitum (mattit) kép; 3 – lớp đất sét béo dày 50 mm; 4 – lóp gạch xây dày 120 mm; 5 – lớp bêtông làm phụ tải; 6 – bản bêtông cốt thép (khi cột nước > 500 mm); 7 – lớp lót bằng bêtông; 8 – lớp giằng bằng vữa ximăng cát; 9 – lớp giấy cuộn cách nước; 10 – dớp.yữa ximãng – cát; 11 – kết cấu hộp
bằng bêtông cốt thép; 12 – lớp gạch; 13 – lớp bitum được bảo vê bằng vữa ximăng – cát và 14 – lớp vữa chống ẩm cho kết cấu bên trên.
Khi MNN thấp, có thể chỉ cần quét hai lớp bitum lỏng hoặc miết đất sét bên ngoài tường tầng hầm rồi trát vữa ximăng – cát mac 75.
Muốn bảo vệ tường bể ngầm hoặc cách nước cho bể ngầm cũng làm tương tự tầng hầm.