Thiết kế mặt đứng

thiết kế mặt đứng là tạo hình dáng bên ngoài của nhà. Có các loại mặt đứng như sau:
– Mặt đứng chínhịlà mặt trước của nhà;
– Mặt sau nhà;
– Mặt bên của nhà (còn gọi là mặt hồi nhà), có hai mặt hai bên.
Khi thiết kế mặt đứng cần quan tâm cả bốn mặt.
Mặt đứng chính phải trang trọng, duyên dáng, vừa cời mở, vừa kín đáo. Cời mờ là khi mở cửa chính thì có cảm giác mời gọi, kín đáo là khi đóng cửa thì ờ ngoài không nhìn vào trong nhà được và có cảm giác an toàn.
Trẽn mặt đứng có thể bố trí hiên, mái hẳt, bancông’,… Tất cả các bộ phận, chi tiết như mảng tưòng, cột, lỗ thoáng, gờ chì,… đều phải cân nhắc kỹ. Cái đẹp ở đây là sự cân đối, hài hòa chứ không phải rườm rà, ioè loẹt, đắt tiền.
Vào những năm 1980 người ta thích trang trí mặt đứng chính bằng đá rửa. Qua thực tế thấy rằng, với khí hậu và điều kiện thời tiết của nước ta, việc dùng đá rủa có nhiều điều bất lợi, chẳng hạn dễ đọng bụi, dễ mốc,… Sau đó đến thời kỳ thích ốp đá cẩm thạch và gạch trần Giếng Đáy. Từ những năm 1990 lại xuất hiện gạch ốp (dán) nhập ngoại hoặc trát tuyết vôi sơn silicat, sơn nhũ tương.
Những phát triển trên đây làm phong phú thêm bộ mật đô thị nhưng với mặt đứng chính trát vữa thông thường, quét vôi ve như truyền thống vẫn có nhiều ưu điểm (xem ờ các mục 4.8.1, 4.12.1 và 4.12.2).

1. Chiều cao nhà
Nhà ở gia đình không nên cao quá bốn tầng.
Chiều cao nhà phải tuân theo quy định ờ mục 1.1.3.

2. Chiều cao tầng nhà
Chiều cao tầng (từ mặt sàn hoặc mặt nền tẩng dưới đến mặt sàn tầng trên) lấy bằng chiều cao phòng ờ.
Chiều cao thông thủy(1> của phòng ở chỉ cần > 2,50 m là đủ không khí. Tuy vậy nhiều khi phòng ở phải đóng cửa, cho nên chiều cao thông thủy nên lấy > 2,80 m.
Cha ông ta thường nói “Nhà cao cửa rộng”, ý muốn nói là làm nhà (phòng ở) phải cao, cửa phải rộng thì mới thoáng mát.
Thực tế người ta thường lấy chiểu cao tầng cách hai lần bội số bậc cầu thang (tam cấp): 3,00; 3,30; 3,60 hoặc 3,90 m, không nên > 4,00 m, vì sẽ ảnh huửng đêh độ dốc cầu thang và phức tạp khi chọn kích thước cửa, tốn vật liệu.
Việc chọn chiều cao tầng phải xem xét về mặt kinh tế, chịu lực, mỹ quan,… Các nhà kinh tế đã khẳng định rằng, nếu tăng chiều cao tầng thì vật liêu sẽ tâng nhiểu. vể mỹ quan, cần có tỷ lệ hài hòa, chẳng hạn nếu phòng hẹp mà chiều cao quá lớn thì có cảm giác sống trong cái giếng, ngược lại phòng quá rộng mà chiều cao lại nhỏ thì cảm giác nặng nề.
Thông thường chỉéu cao tầng 1 (tầng trệt) cao hơn các tầng trên, càng lên cao thì có thể giảm chiều cao tầng. Nếu tầng 1 có gác xép (gác lửng) thì chiều cao > 5,00 m (dưới > 2,70 m, trên > 2,20 m).
Trong mỗi tầng tránh có nhiều chiều cao khác nhau, do vậy nếu chiều cao những nơi không cần cao bằng phòng ở thì có thể bố trí các hốc dể làm kho,…
Các chiều cao này chỉ cần:
– Khu phụ (bếp, xí, tắm) > 2,10 m (thậm chí 1,80 m);
– Tiền sảnh, hành lang, lối đi > 2,20 m;
– Khoảng không trên cẫu thang > 2,00 m;
– Kho > 2,00 m;
– Gara: cao hơn nóc xe > 0,70 m;
– Lancan của cầu thang, bancông, sận thượng,… > 0,80 m.
Để mỹ quan, trên đoạn phố các nhà không nên chọn chiều cao tầng khác nhau.
Chiều cao bancông tầng hai phải cách mặt hè phố > 3,50 m (xem hình 1.1, mục 1,1.4).
Chiều cao tầng hầm > 2,00 m, có thể nửa nổi nửa chìm.
Chiều cao thông thủy nhà cấp rv nên lấy > 2,70 m nếu không có trần, lấy > 2,80 m nếu có trần.

3. Chiểu cao nền nhà
Chiều cao nền nhà tính từ mặt đất tự nhiên hoặc mặt đất quy hoạch chung.
Chiều cao nền nhà tạo dáng bề thế cho nhà, tránh ngập lụt, chống ẩm,… Chiều cao nền nhà phải phù hợp với quy hoạch chung của khu vực, đặc biệt là nhà mặt đường. Chiều cao nền nhà để tránh ngập lụt cần lưu ý có chiều cao dự phòng khi nền đất yếu bị lún và nhà mặt đường khi đường bị nâng cao lên. Nếu chỉ cần chống ẩm thì chiều cao nền nhà chỉ 0,20 – 0,30 m.
Khi nhà được Xây dựng sát đường đỏ thì chiều cao nhà phải cao hơn vỉa hè > 0,50 m.
Chiều cao nền nhà thường lấy chẵn theo chiểu cao một bậc tam cấp (0,15 m) và không quá 0,90 m (6 bậc tam cấp).

4. Mặt đứng cửa
Khi chọn kích thước cửa cần theo “tỷ lệ vàng” đã nói ở mục 3.2.6. Khi hai cửa đối diện nhau cẩn mở lệch nhau để tránh gió lùa. Thông thường của chính phải lón hơn cửa phụ.
Theo công dụng có: cửa đi, cửa sổ, cửa chống côn trùng,…
Theo phương thức đóng – mở có: cửa mở một chiều (mở vào trong hoặc ra ngoài, hình 3.55a); cửa mờ hai chiều (nhất thiết phần trên phải làm bằng kính để tránh va dập, hình 3.55b); cửa trượt (cửa đẩy) về một phía hoặc hai phía bằng hệ thống bánh xe lãn trên ray (loại cửa này khi đóng – mở không chiếm diện tích và không gian, được dùng khi ngăn các phòng, cửa kho, …, hình 3.55c); cửa xếp (h.3.55d); cửa cuốn (tên trên hằng hệ thống dây kéo hoặc môtơ); cửa quay (thường dùng ưong các công trình, hình 3.55 e); cửa hãm (dùng khi tầng nhà cao, luôn đóng, chỉ để lấy ánh sáng và tạo hình thái cân đối cho mặt đứng của nhà) và cửa lật (phía trên cửa di, chiều cao 500 – 600 mm).
Theo vật liệu có: cửa gỗ (rất thông dụng); cửa kim loại (sắt thép, nhôm,…); cửa kính; cửa nhựa; cửa chất dẻo;… Cửa sắt thép rất bền, tính an toàn trong bảo vệ cao, dễ gia công, có tính thẩm mỹ cao,… Cửa sắt thép có thể dùng được cho cả ba dạng: cửa quay, cửa trượt và cửa cuốn. Cửa nhựa, cửa chất dẻo có chủng loại phong phú, nhẹ nhung kích thước bị hạn chế và không đảm bảo an toàn trong bảo vệ nên thường chỉ dùng cho khu phụ, nhà kho. Ngoài ra còn cửa hỗn hợp các loại vật liệu.

Thiết kế mặt đứng 1

Theo hình dáng có: cửa panô, cửa chóp,…
Thể hiện của đi trên mặt bằng và tác dụng -của cửa di xem ở mục
3.2.8.7.
Chiều cao cùa đi chọn theo chiểu cao nhà, chiều cao phòng,… và tạo cảm giác không gian được nới rộng. Chiều cao cửa đi bình thường lấy 2100 mm, trường hợp đặc biệt có thể lấy đến 2400 mm. Các phòng phụ, khu phụ, kho, gara,… có thể thấp nhuhg không dưới 1800 mm. Khi cửa cao hơn 2200 mm nên làm cửa hãm.
Chiều rộng cửa đi môt cánh thường lấy 800 mm, cửa phụ có thể chỉ rộng 650 hoặc 700 mm. Cửa đi hai cánh thường rộng 1200 hoặc 1400 mm, có thể 1100 hoặc 1600 mm. Cửa đi bốn cánh thường rộng 2100 mm. Của phòng khách thường rộng từ 1200 mm trở lên. Cửa phòng ngủ thường là một cánh và mở vào trong.
Khi thiết kế cửa di cần xem xét các yêu cầu sau đây:
– Trong một ngôi nhà, không nên chọn quá nhiều kiểu cửa đi;
– Bố trí cửa nơi chiếm ít diện tích, đóng – mờ thuận tiện, không cản trở việc bố trí đồ đạc;
– Chọn vật liệu, kiểu loại bền lâu, thi công không phức tạp;
– Giá thành hợp lý.
Cấu tạo của cửa đi xem ở mục 3.3.8.1. .
Của sổ dể lấy ánh sáng, thông gió, che mưa – nắng và cách ly với môi trường bên ngoài. Ở nước ta, cửa sổ nên làm hai lớp: lớp ngoài chớp để che nắng, thông gió; lớp trong (thường là kính) để lấy ánh sáng tự nhiên, ngàn gió lạnh, chống mưa.
Cửa sổ dặt hên tường hoặc vách, thường cách trần 300 – 400 mm. Cửa sổ đặt cách mặt nền (sàn) phụ thuộc chức năng của phòng, chẳng
hạn, phòng ở: 500 – 800 mm, phòng làm việc: 1000 – 1200 mm, khu phụ > 1500 min,…
Chiểu cao cửa sổ thông thường 900 – 1800 mm. Nếu cửa sổ cao hơn 1500 mm thì nên làm cửa lật (chiều cao cửa lật 350 – 550 mm). Mép trên cửa sổ và mép trên cửa di thường ngang nhau.
Cửa sổ thường có hai cánh hoặc bốn cánh. Chiểu rộng cửa sổ thông thường 600 – 1500 mm.
Theo nghiên cứu của TSKH Phạm Ngọc Đăng, chiều cao cửa sổ bằng khoảng 0,40 chiều cao phòng và chiều rộng cửa sổ bằng 0,45 chiều rông phòng thì phòng đó đạt mức chuẩn về ánh sáng tự nhiên.
Ở nước ra, cửa sổ nên phát triển theo chiều rộng (chiều ngang) và hạ thấp để hứng được nhiều gió, tạo ánh sáng đều, tránh được nắng, dỡ hắt nước mưa,…
Cửa sổ của các tầng thường trên dường thẳng dứng.
Theo hướng Đông đến hướng Nam thì nếu mở được nhiều cửa sổ và ô trống càng tốt. Cửa sổ mờ về hướng Tây – Nam đến Đông – Bắc cần phải cân nhắc vì các hướng này có khí hậu bất lợi.
về mặt thông gió, nếu hướng gió chính tạo với hướng nhà góc 15° sẽ đạt được hiệu quả nhất.
Cấu tạo của cửa sổ xem ờ mục 3.3.8.2.