Thiết kế mái – P2

2. Mái dốc là mái có độ dốc >8% (càng dốc thoát nước càng nhanh nhưng càng tốn vật liệu làm mái).

Thiết kế mái - P2 1

Hình 3.199
Mái dốc thường có ba loại cơ bản sau đầy: 1. mái một dốc (h.3.199a), dùng khi nhà có khẩu độ nhỏ, mặt bằng chữ nhật; 2. mái hai dốc (h.3.199b), ở hai hồi hai tường hình tam giác gọi là tường hồi bít đốc; 3. mái bốn dớc: a/ bốn mái nghiêng bốn bên (h.3.199c); b/ kiểu hai chái (h.3.199d), có bít đốc; c/ kiểu bánh ú (h.3.199e) và d/ kiểu bốn máng nối (h.3.199f).
Từ ba loại cơ bản nêu trẽn, có thể biến hóa thành nhiều dạng khác, chẳng hạn như ở hình 3.200.
Cấu tạo của mái dốc cũng có hai bô phận chính: bộ phận chịu lực và bộ phận lợp (che).
Bộ phận chịu lực của mái dốc thường gọi là sườn chịu lực, gồm giàn kèo, liên kết các giàn kèo và giàn mái. Phối cảnh sườn chịu lực đặt trên tường gạch như ở hình 3.201: 1 – xà ngang (quá giang, xà tựa, thanh ngang, thanh giằng, thanh hạ); 2 – thanh đứng giữa; 3 – thanh kèo; 4 – thanh xiên; 5 – xà gồ (đòn tay, hoành); 6 – xà gồ nóc; 7 – xà gồ mái đua (xà gồ biên); 8 – cầu phong (rai).
Bây giờ chúng ta nói về một số bộ phận của sườn chịu lực.
Giàn kèo (vì kèo) thường làm bằng gỗ xẻ hoặc gỗ cây đẽo phẳng, có thể dùng tre gai, bương. Nếu có gỗ tròn (Ị) 100 -140 thì tốt hơn gỗ xẻ, vì không phải dùng gỗ to để xẻ, độ cứng lớn hơn, chiu lử^ tốt hơn, liên kết chắc hơn,… 

Thiết kế mái - P2 1

Hình 3. 201
Giàn kèo đặt vào tường chịu lực, cột hoặc trụ (đặt cách nhau 2,7 – 3,0 m) để đỡ giàn mái (trực tiếp là đỡ xà gồ (5). Nếu hai tường ngang chịu lực cách nhau < 4,0 m thì có thể không cần giàn kèo, khi đó gác trực tiếp xà gổ lên tường ngang. Khi có cột trung gian thì nên tận dụng làm gối tựa cho giàn kèo.
Cấu tạo của giàn kèo như ờ hình 3.202: a/ không có thanh đứng phụ (9); b/ có thanh đứng phụ (9); 10 – con bọ; 11 – thanh chéo dọc (thanh giằng dọc); 12 – ốp chân thanh (2); 13- kê chân giàn kèo; 14 – thanh ngang đỉnh kèo; 15 – nối (có thể bằng thép hoặc gỗ) thanh (1). Sơ đồ ở hình 3.202a thường dùng cho khẩu độ 3,6; 3,9 và 4,2 m nhung thêm thanh (2). Sơ đổ ở hình 3,202b dùng cho khẩu độ 4,5; 4,8; 5,1; 5,4; 5,7 và
6,6 m.
Các thanh (2) và (9) chịu kéo nên để tiết kiệm gỗ, có thể thay bằng thép.
Hình 3.203 là một dạng giàn kèo cải tiến.

Thiết kế mái - P2 1

Hình 3.202
Giàn kèo có thể có dạng chữ nhân không có xà ngang (1) như à các hình 3.204a, b, c, d, e hoặc có xà ngang (1) nhung đơn giản như ở hình 3.204Í.
Khi hai mái không đối xứng, có thể dùng dạng kèo như ở hình 3.205a (ba thanh mảnh I, in, VI có thể thay bằng thép).
Khi một mái có thể dùng dạng kèo như ở hình 3. 205b (hai thanh mảnh vm và X có thể thay bằng thép).
Các thanh xà ngang AB cũng có thể thay, bằng thép.

Sơ đổ giàn kèo phụ thuộc kích thước, hình dạng của nhà và sự phân bố cột bên ữong nhà.
Quy cách các bộ phận của giàn kèo gỗ như sau:
– Với sơ đồ ở hình 3.202a nhưng có thêm thanh (13) và thanh (12) (nối ốp chân thanh 2), 8 chốt tre ộ 16 (bảng 3.10)
Bảng 3.10

Thiết kế mái - P2 1

Thiết kế mái - P2 1

– Với sơ đồ ở hình 3.202b nhưng có thêm thanh (15) (nối thanh 1), 18 chốt tre (ị) 16, 4 đinh mũ dài 70 mm (bảng 3.11).
Giàn kèo bằng tre gai hoặc bương thường làm theo dạng tam giác. Các nút giàn kèo phải cách nhau < 1,5 m. Không được đục quá hai lỗ trong một dốt tre hoặc bương.
Không nên tiết kiệm giàn kèo ờ hai dầu hồi, mà đầu hồi (sát tường hổi, phía trong) nên có giàn kèo để thành hệ chịu lực thống nhất và khỏi ỉàm hỏng tường hồi. Khi dầu hồi không có giàn kèo thì phải chừa lỗ trong tường dể dặt xà gồ, sau này các lỗ đó được chèn kín bằng gạch vỡ
và vữa.

Liên kết giữa các giàn kèo, tức là giữ ổn định cho các giàn kèo theo phương dọc nhà bằng xà dọc (16) (h.3.204). Xà dọc làm bằng tre thì gọi là ruỗi. Khi cột lớn thì dục cột cho ruỗi qua. Khi cột nhỏ thì xà dọc (hoặc ruổi) Ốp hai bên cột và liên kết với cột bằng chốt tre (22) (con xỏ).
Để giữ ỏn định cho các giàn kèo còn dùng hệ thống giằng (gọi là các thanh chéo dọc hoặc các thanh giằng dọc) tiết diện 50 X Ĩ00 (mm) như ở hình 3.206.
Các xà gồ (5) là thành phần dưdi cùng của giàn mái trực tiếp dật lên trên và vuông góc với các thanh kèo (3) của giàn kèo để đỡ cầu phong (8), như ờ hình 3.202a.
Xà gồ thường làm bằng gỗ (gọi là hoành), bằng tre, bương, vàu,… ộ 80 – 100. Khoảng cách giữa các xà gổ bằng gỗ là 1,2 – 2,2 m, bằng tre là 0,4 – 0,5 m.

Xà gồ cũng có thể làm bằng bêtông cốt thép. Tiết diện xà gồ bằng gỗ chọn theo bảng 3.10 hoặc bảng 3.11 (thanh 5).
Khi nhà không có giàn kèo, xà gồ (5) có thể chọn theo bảng 3.12.
Bảng 3.12

Cầu phong (8) dặt trên và vuông góc với xà gồ (5) dể đỡ litô (23). Cầu phong bằng gỗ đặt cách nhau 300 – 600 nun (thường là 500 mm), tiết diện 40 X 60 (mm) khi xà gồ đặt cách nhau < 2,0 m; tiết diên 50 X 70 (mm) khi xà gồ đặt cách nhau > 2, 0 m.
Chỗ cầu phong đặt lên tường dọc nên có đệm gỗ (24) (h.3.207).

Khi dùng cầu phong bằng tre thì xẻ bản rộng 50 – 60 mm, dày 10 mm Nếu Cầu phong làm bằng nứa tép thì dùng loại (ị) 30 dập dập. Cầu phong bằng tre đặt cách nhau < 250 mm.
Khi không có giàn mái, xà gỗ (5) đặt trực tiếp lên tường như ở hình 3.208: a/ xà gổ bằng gỗ; b/ xà gồ bằng bêtông cốt thép.

 Khi không có giàn mái và xà gồ (5), cầu phong (8) đặt lên tường (qua đệm gỗ 24) như ờ hình 3.209.

Litô (23} còn gọi là mè hoặc thanh đỡ vật liệu lợp, đặt trên và vuông g$£ ỵỌị cầy (8) <Ị| dỡ vật liêu Ịgp. Litô đặt cách nhau theo vật liệu
lợp.
Litô có thể làm bằng gỗ, tre – nứa. Litô bằng gỗ có tiết diện 30 X 30 (min), bằng tre thì tiết diện > 10 X 40 (mm).
Bô phận lợp (che) ở trên cùng của mái, bằng các loại ngói, fibro ximãng, tôn, nhựa, lá, rơm rạ,…
Thoát nước cho mái dốc thường là hệ thống máng dẫn đến các ống thoát nước đứng.
Mái dốc thường làm trần cho sạch và dẹp, quan trọng nhất là tạo tâng hầm mái để cách nhiệt.
Để cách nhiệt cho nhà mái dốc, có thể lợp hai lớp ngói (ngói âm – dương, ngói vảy) hoặc trên lợp ngói, dưới lát bằng tre, nứa, cót, gỗ mỏng,. ..
Mái nhà lợp bằng rơm rạ, cỏ tranh, bối cói, lá,… có khả năng cách nhiệt tốt.
Sau đây sẽ nói về các loại mái dốc lợp bằng các vật liệu:
Mái lợp ngói máy, ngói ximăng có dộ dốc 45 – 70% (27 – 35°), thường lấy 50% (30°).
Litô dặt cách nhau 220 mm, nếu là ngói 22v/m2;
300 mm, nếu là ngòi 13 v/m2.
Diềm mái bằng gỗ dày 25 – 30 mm, rộng 200 – 300 mm.
Bờ chảy xây dốc theo mái (nhà bốn mái thì bờ chảy xây ngói bò).
Không nên trát vữa kín các khe ngói sẽ làm mái lâu nguội.
Thoát nước cho mái lợp ngói, xem ở hình 3.217.
Mái lợp ngói mấu (ngói dẹt, ngói ta, ngói vẩy cá, ngói móc,…) có độ dốc 70 – 200% (35 – 60°), thường lấy 100% (45°).
Litô dặt cách nhau 70 mm.
Mái lợp ngói máng (ngói âm – dương) có dô dốc 35 – 45% (21 – 27°), thường lấy 40% (khoảng 25°).
Litô dặt cách nhau 100 – 150 mm.
Mái lợp fibro ximãng có dọ dốc 30 – 200% (18 – 60°), thường lấy 40% (khoảng 25°).
Tấm íibro ximãng dặt trực tiếp lên xà gồ, không cần cầu phong và litô. Xà gổ đặt cách nhau bằng chiều dài tấm íĩbro ximãng trừ đi 100 – 160 mm. Xà gồ sát nóc đặt cách xà gồ đỉnh nóc < 200 mm.
Một kiểu mái lợp fibro ximãng như ở hình 3.210.
Mái lợp fibro ximãng là mái nhẹ nhất nhưng đủ bền, lại rẻ, có khả năng phòng cháy, chống ãn mòn, … nhưng cách nhiệt kém, dễ vỡ, đổng thời có thể bị dộc hại, nhất là không dược dòng nước chảy từ mái này dể ăn, uống.

Mái lợp tôn có hai loại: tôn múi và tôn phảng. Độ dốc mái lợp tôn múi là 30 – 70% (18 – 35°), thường lấy 40% (khoảng 25°). Độ dốc mái lợp tôn pliẳng là 20 – 30% (12 -18°), thường lấy 25% (khoảng 16°).
Tôn đặt trực tiếp lên xà gồ, không cần cầu phong và litô. Xà gồ dặt cách nhau 200 – 250 mm.
Hiện nay người ta hay dùng sườn chịu lực bằng thép để lợp tôn và mái tôn dang là giải pháp được nhiều người dùng, vì nhẹ, rẻ, dễ thi công, tạo được sự thông gió,…
Mái ìợp giấy dầu có độ dốc 33 – 50% (20 – 30°), thường lấy 35% (khoảng 22°).
Các bộ phận của giàn mái này tương tự mái lợp ngói máy nhung đơn giản hơn.
Mái lợp lá, rơm rạ có dô dốc 50 – 100% (30 ■ 45°), thường lấy 82% (khoảng 40°).
Litô dặt cách nhau 200 – 300 mm.
Lá có thể lợp trực tiếp lên xà gồ, không cần cầu phong và litô.