Thiết kế mái – P1

Mái là bộ phận trên cùng của nhà, trực tiếp chịu tác động của mua, nắng, gió bão,… thất thường, cùng với xâm thực hóa – lý của môi trường bên trong và bên ngoài nhà, vì vậy mái thường dễ bị hư hỏng nhất. Mái là bô phận chịu lực và bao che. Tác dụng chính của mái là che cho nhà khỏi bị mưa nắng và góp phần ổn định cho tường và nhà.
Mái có hai bộ phận chính: bộ phận chịu lực và bộ phận lợp (che).
Thường có ba dạng mái cơ bản: mái bằng, mái dốc và mái cuốn. Trong nhà ở gia dinh nói chung không dùng mái cuốn nCn ở dây không giới thiệu loại mái này. Dạng mái có ảnh hưởng rất lớn dến hình thức bên ngoài của nhà. Khi chọn dạng mái nào, ngoài các yêu cầu riêng của gia đình, cần xem xét về tính bền vững, kinh tế, kỹ thuật (cách nước, cách nhiệt, cách âm, cách ẩm,…), mỹ quan và dơn giản trong thi công, sửa chữa.
Kết cấu chịu lực chính của mái là dầm mái, giàn mái hoặc vòm mái, chúng tựa trên cột hoặc tường ngoài nhà. Nếu dùng tấm mái đủ dài dể gác lên kết cấu chịu lực của mái thì không cần xà gồ (dòn lay). Ngược lại, tấm mái gác lên xà gồ, xà gồ gác lên kết cấu chịu lực cùa nhà.

1. Mái bằng còn gọi là sân thượng, vì ngoài tác dụng chính là làm mái cho nhà, nó còn làm sân chơi, sân phơi, sân trồng cây cảnh,…
Theo quy định, mái có độ dốc <8% thì gọi là mái bằng. Thực tế mái bằng thường có độ dốc 2% (0,02).
Mái bằng cần đạt được các yêu cầu sau đây:
– Đô bền lâu dài, kể cả trong trường hợp có vui chơi, trồng cây,…
– Không thắm dột;
– Không làm nóng các phòng dưới mái;
– Thoát nước tốt (không đọng nước trên mái);
– Không bị ồn khi có người đi,… ở ưên mái.
Cấu tạo mái bằng có rất nhiều kiểu nhung nói chung có bốn phần cơ bản (tính từ dưới lên trên): 1. chịu lực và tạo dốc; 2. chống thấm (cách nước); 3. chống nóng (cách nhiệt); 4. bảo vệ (hoàn thiện).
Trong điều kiện khí hậu và nhiệt độ của nước ta, thứ tự bốn phần cơ bản của mái bằng từ dưới lôn trẽn sắp xếp như nôu trên có nhiỂu ưu điểm hơn, vì phẩn 2 không bị mưa nắng trực tiếp, ưánh dược tác dộng của dao dông nhiêt mạnh, ổn dinh và không bị biến dạng.
Cấu tạo từng phần như sau:
Phần chịu lực và íạo dốc (1) là nền dỡ các phần trên, thường là sàn bêtông cốt thép đổ tại chỗ hoặc lắp ghép bằng panen có lỗ rỗng đúc sẩn. Trong nhà ở gia đình thường dùng sàn bêtông cốt thép dổ tại chỗ như sàn (dã nói ở mục 3.3.9.1).
Không nên làm tạo dốc sau khi có phđn chịu lực (mà phải làm cùng với phần chịu lực), vì sẽ khó thành một khối liên kết tốt. Nếu ờ giữa cao, sát tường hoặc dầm thấp thì càng tốt, vì ờ giữa phải chống mômen uốn lớn nên cần dày hơn.
Bêtông dùng tạo dốc lấy mac 15-25.
Phần chống thấm (2) còn gọi là phần cách nước, phần ngăn nước. Phần này có hai loại cứng và mềm. Vổi khí hậu, thời tiết của nước ta, Quy chuẩn XDVN (Điều 3.8) quy định là không dược chống thám bằng kiểu mềm: quét bitum, dán giấy dầu, dán giấy cao su cách nước.
Chống thấm kiểu cứng là dổ lớp bêtông chấm thấm dày 40 – 50mm bằng sỏi nhỏ mac > 200, cốt thép ộ 4 – 6 đan ô lưới 200 X 200 hoặc 250 X 250 (mm). Qua nghiên cứu người ta thấy rằng, ô lưới càng lớn thì khả năng phân tán lực kém hơn, chẳng hạn ô lưới 250 X 250 kém hơn ô lưới no X 110, càng kém hơn ô lưới 75 X 75,… Theo chúng tôi, nên dùng (ị) 2 dan ô lưới 40 X 40 (mm) hoặc ị 1 ô lưới (10 – 20) X (10 – 20) có bán sẵn và đật hai lớp lưới càng tốt (khi dó không dùng bêtông sỏi nhỏ mà dùng bêtông cát vàng (vữa) tỷ lệ 1: 2 – 1 : 3, dày 15 – 25 (mm). Làm
như vậy mái sẽ nhẹ hơn, chấl lượng chống thấm tốt hơn.
Một số người chỉ trát vữa ximãng cát vàng mà không dật CÔI thép. Làm như vậy sẽ không tốt, vì phần chống thấm có thể bị rạn nứt.
Tăng khả năng chống bằng cách dùng ximăng chống thấm và phụ gia chống thấm càng tốt. Tuy vậy việc dùng phụ gia phải rất thận trọng, vì có rất nhiều Iơại với thủi năng và công dụng khác nhau, hếu dùng không đúng chẳng những chống thấm không tốt, tốn tiền, mà có thể còri có hại, dó là chưa kể còn mua phải phụ gia dởm (xem ở mục 2.8).
Cuối cùng là phải ngâm nước ximăng và đánh màu.
Phần chống nóng (3) còn gọi là phần cách nhiệt. Phần này có lác dụng rất lớn là bảo vệ phầi (2) không bị hỏng dưới tác dụng của nhiệt dô và thời tiết, làm mát cho các phông dưới mái.
” Phần chống nóng thường dùng hai biện pháp dể lạo nên: tầng không khí lưu thông hoặc vật liệu xốp. Chúng tôi đã tư vấn cho nhiều gia đình và cơ quan về phần chống nóng bạng tóp không khí lưu thông như sau: dùng gạch đất sét nung 10 lỗ xây nghiêng, trên lát lá nem kép hoặc hai lớp gạch men. Từng hàng gạch lỗ không nên xây liền, mà cách nhau 40 – 50 mm để tạo khe cho gió dễ lưu thông. Có thể dùng gạch 4 hoặc 6 lỗ dể xây.
Điều quan ưọng là lớp không khí lưu thông (khoảng cách từ mặt trên của phần chống thấm dến mặt dưới của lớp gạch lá nem) phải dày 250 – 300 mm. Xung ‘quanh mái nên hở để gió lưu thông. Góc giữa huớng gió chính và hàng gạch xây càng gần song song càng tốt.
Dùng vật liệu xốp thì dùng xỉ than, bêtông bọt, bông thoáng, thuỷ tinh bọt,… (khối lượng thể tích 500 – 800 kg/m3), dô dốc 3%, đầm kỹ.
Có thể kết hợp cả hai biện pháp vừa nêu hoặc dùng một số biên pháp khác như lợp bằng tôn, nhựa, lát bằng tấm đan, dùng lớp nước dày 200 mm, lớp dất sét dày 400 mm, … Tuy vậy, dùng lóp không khí lưu thông là hiệu quả nhất: các phòng dưới mái mát, không thấm dột, kinh phí ít, thi công dơn giản và dùng được mái bằng để làm sân thượng, đổng thời không tăng nhiểu cho trọng lượng mái.
Phần bảo vệ (4) còn gọi là phần hoàn thiện. Yêu cầu của phần này là phải có dộ hút nước nhỏ, độ ngậm nước nhỏ, dộ bền cao, phản xạ nhiệt lớn và thẩm mỹ (khi dùng mái bằng làm sân thượng).
Cấu tạo của phần bảo vệ như đã nói ờ phần chống nóng (3). Các hàng gạch lỗ xây với vữa mac > 50, hàng nọ cách hàng kia 200 mm (đúng bằng chiều rộng viên gạch sang bên trên). Vữa chít mạch lát mac > 80. Cần lưu ý dộ dốc mái và nhóm nước (mua) vào ống thoát nước.
Khi thiết kế mái bằng cho các phòng dưới mái có dặt điều hòa không khí thì về phương diẽn cách nhiệt, nhiệt trờ và hẹ số tắt dần dao động của kết cấu phải lớn hơn bình thường.

Thiết kế mái - P1 1

Thoát nước mưa trên mái bằng bằng sênô thu nước rồi dẫn nước đến ống thoát nước. Cứ 50 m2 mái, làm một ống thoát nước <ị> 150 bằng nhựa (vừa bền, rẻ, lại ít phải nối). Trên miệng ống thoát nước cần có lưới chắn rác (nên dùng loại hình cầu như trong hình 3.198 để ít bị tắc).
Trên mái bằng phải làm tường chắn mái. Tường chắn mái xem mục 3.3.7.11.