Thiết kế dầm

dầm có các loại sâu đây:
– Theo tính chất chịu lực có: dầm đơn, dầm liên tục, dầm côngxon,…
– Theo cách truyền tải trọng có: dầm chính, dầm phụ.
– Theo công dụng có: dầm móng, dầm trần, dầm đỡ tường, dầm nối các cột,…
– Theo vật liêu có: dầm bêtông cốt thép, dầm ưe, dầợi gỗ, dầm kim
loại,…
Ngoài ra còn có dầm dọc, dầm ngang…
Dầm bêtông cốt thép và dầm thép chủ yếu để đỡ bản bêtông cốt thép. Dầm bêtông cốt thép có nhiều ưu điểm nên rất hay được dùng. Trong nhà ở gia đình rất ít dùng dầm thép.
Dầm gỗ dùng chủ yếu để đỡ mặt sàn lát bằng gỗ, bô phận chịu lực của mái dốc, treo trần,…
Dầm dơn còn gọi là dầm một nhịp, là dầm thẳng, hai đầu đặt lên hai gối tựa (tường hoặc cột). Phía trên của dầm đơn chịu nén, phía dưới chịu kéo, do vậy nếu là dầm bêtông cốt thép thì cốt thép chịu lực (dọc) đặt phía dưới là chính. Để chống lục cắt ở gần gối tựa, nên có thêm cốt thép
xiên.
Dầm phải gối vào tường hoặc cột một đoạn không nhỏ hơn nửa chiều cao dầm.
Dầm liên tục còn gọi là dầm nhiều nhịp, là dầm nhiều gối đỡ (tựa), tương tự như nhiều dầm đơn ghép lại.
Dầm côngxon là dầm chỉ ngàm một dầu, còn một dầu tự do. Dầm côngxon chịu lực gần như ngược với dầm dơn: miền chịu kéo ở phía trên, miền chịu nén ờ phía dưới.
Dầm côngxon được dùng ở ôvãng, sênô,…
Dầm móng đã nói ở mục 3.3.3.6.
Dầm sàn sẽ nói ờ mục 3.3.9.
Dầm trần sẽ nói ờ mục 3.3.17.
Dầm đỡ tường như ờ các hình 3.84, 3.122 và 3.133.
Dầm đỡ tường có thể là dầm bêtông cốt thép, dầm thép, dầm gỗ,… Dầm liên kết các móng đơn là dầm bêtông cốt thép, như ờ hình 3.91. Dầm liên kết các cột là dầm bêtông cốt thép, như ờ hình 3.122.
Dầm cầu thang xem mục 3.3.10.
Dầm bêtông cốt thép có thể gác lên tường và cột (h.3.128a,c) hoặc chỉ gác lên tường (h.3.128b).

Thiết kế dầm 1

Hình 3.128

BỐ trí dầm như ờ hình 128a (các dầm phụ nằm ngang) thì trần đượẹ chiếu sáng tự nhiên tốt hơn, còn bố trí dầm như ở hình 3.128c thì tăng cường được độ cứng không gian của nhà. Việc chọn phương án bố trí dầm như thế nào phụ thuộc cảc yêu cầu đối với căn phòng, đối với loàn nhà.
Thông thường các dẩm chính đặt theo chiều rộng của phòng, cách nhan 4 – 6 m, khi chiều dài của phòng > 6 m. Dầm phụ đặt vuông góc với
dầm chính. Trong phạm vi mỗi nhịp của dầm chính (khoảng cách hai cột) có thể đặt 1 – 3 dầm phụ (hoặc nhiều hơn), trong đó nên có dầm phụ đặt ngay trên đầu cột. Khoảng cách giữa các dầm phụ thuộc sơ đồ bản và hoạt tải (tải trọng di dông): với sàn sườn loại dầm, các dầm phụ dặt cách nhau 1,5 – 3,0 m (trong nhà ở gia dinh có thổ đến 3,6 m); với sàn là bản kê bốn cạnh, các dầm phụ đặt cách nhau 2,5 – 3,5 m (trong nhà ở gia đình có thể đến 4,0 m).
Dầm chính phải dặt vào tường 200 – 250 mm.
Tường và dầm chia bản thành các ô. Thông thường các ô có hình chữ nhật.
Dầm dọc là dầm đặt theo cạnh dài của ô .bản, dầm ngang là dầm đật theo cạnh ngắn của ô bản.
Thường có hai sơ đồ hệ dìm:
1. Tại chỗ dầm dọc và dí-rn ngang giao nhau dểu có cột (h.3.128b), gọi các dầm là “dầm sàn”, khc ng phân’ biột dầm chính, dầm phụ.
2. Có nhũng dầm dọc ktông kê trực tiếp lên cột mà kê lên dầm ngang (h. 3.128c), gọi dầm dec đó là “dầm sàn”, làm việc giống như dầm phụ, còn dầm ngang đóng vai trò dầm chính.
Tiết diện dầm thường là hình chữ nhật, đặt đứng (không dược đặt nầm, vì đặt nằm thì’ chịu lực không tốt), tức là chiều cao > chiều rộng. Dầm trong khung thường lấy chiếu rộng bằng cạnh cột.
nhà khung chịu lực, chiều rộng b của tiết diện dầm thường lấy bằng chiều rộng cột.
Người ta khuyên rằng, tỷ số giữa h và b nên lấy theo “tỷ số vàng” (đã nói ờ mục 3.2.6).
Trong thực tế người ta hay chọn như sau (mm):

Thiết kế dầm 1

Nguyên tắc đặt cốt thép trong dầm là cốt thép chịu lực đặt ờ vùng dầm chịu kéo (uốn), vùng chịu nén chỉ đặt cốt thép theo cấu tạo (không chịu lực). SỐ lượng và đường kính (ị) của cốt thép chịu lực đặt theo tính
toán. Cốt thép chịu lực trong dầm thường lấy (ị) = 12 – 32 mm và không b
được nhỏ hơn — (b là chiều rộng dầm).

(h.3.129b). Thông thưòng cốt
thép chịu lực ờ hàng dưới có Hỉnh 3.129
đường kính (Ị) lớn hơn hoặc số thanh nhiểu hơn hàng trên.
Đoạn dầm trên gối tựa cần đặt thêm các cốt thép xiên dể chống lực cắt và tránh nứt xiên (h.3.130). Nếu cốt thép hàng dưới > 3 thanh thì có thể chỉ trừ lại’2 cốt thép ở góc, còn lại có thể uốn lên hàng trên. Các cốt thép uốn lên này phải uốn các thanh đối xứng với trục dầm. Các cốt thép này uốn xiên góc 45° (khi dầm thấp có thể uốn thoải khoảng 30°, khi dầm cao có thể uốn dốc khoảng 60°). Đầu các thanh uốn xiên này phải có phần nằm ngang dài 20 ộ trong vùng chịu kéo và 10 (ị) trong vùng chịu nén. Khi không thể kết hợp uốn cốt dọc làm cốt xiên thì cần đật thêm cốt xiên dạng vai bò (h.3.131a), không dùng cốt xiên dạng cổ ngỗng (h.3.131b).

 Thiết kế dầm 1

Để thuận tiên cho thi công, ưong mỗi dầm không nên dùng quá ba loại đuờng kính cốt thép chịu lực và trong mỗi tiết diện dầm thi cốt thép chịu lực không nên chênh lệch nhau quá 6 mm.
Cốt thép cấu tạo (cốt thép giá) có đường kính:
10 – 12 – đối với dầm phụ;
12 -14 – đối với dầm chính.
Các cốt thép đai (cốt thep ngang) có tác dụng tiếp nhận các lực cắt, gắn chặt vùng chịu kéo và vùng chịu nén của dầm, định vị cốt thép dọc. Cốt thép đai dùng ộ = 6 ram đật cách nhau 120 – 180 mm (gần gối tựa nên dặt dày hơn).
Dầm dùng mac bêtông 150 – 200, lớp bêtông bảo vê cốt thép dọc dày > 25 mm, bảo vê cốt thép đai dày > 15 ram, trát bằng vữa ximăng – cát mac 100.
Cần lưu ý rằng, nếu dầm nhỏ quá, cốt thép đật quá gần nhau thì khó đầm đảm bảo chất lượng bêtông được, nhung nếu dầm lớn quá có thể giảm được lượng cốt thép nhưng phí bêtông và không mỹ quan, mà chưa chắc chịu lực đã tốt.
Đối vói dầm gỗ, không được khoan lỗ để dặt đường điện, đường nước. Dầm gỗ xem ở mục 3.3.9.2,