Thiết kế các bộ phận khác – P2

4. Bể chứa nước có các loại sau đây:
– Theo công dụng, có:
+ Bể chứa nước dặt trên cao, để bơm nước lên hoặc nước trong hệ thống chung chảy vào dược. Thông thường bể loại này dược đặt trên mái
bằng hoặc trong tầng hầm mái dốc hoặc ở tầng cao nhất để tự chảy, dùng được ờ những nơi cao nhất cần nước.
+ Bể chứa nước đặt trên mật đất dể dự trữ nước mưa hoặc bơm nước từ giếng lên dùng dần.
+ Bể nước đặt ngầm dưới đất dể dự trữ nước từ máy nước công cộng chảy vào hoặc nước mưa, sau đó bơm lên bể chứa nước trên cao. Bể chứa nước loại này cần dặt xa bể tự hoại, chuồng trại,…
– Theo vật liệu, có thể bể chứa nước dược làm bằng gạch xây, bôtông cốt thép (đổ tại chỗ hoặc lắp ghép), bồn chứa nước bằng inox, composite,… Bể nước làm bằng các vật liêu này có thể dật ưẽn cao, trên mặt đất hoặc dưới đất. Sau dây là cấu tạo một số loại bể này:
a/ Bề xây bằng gạch thường có mặt bằng hình chữ nhật hoặc hình vuông. Bể này có dáy như sau:
– Nếu là bể dặt trên cao thì đáy bằng bêtông cốt thép đặt trên dầm (cả bốn phía tường bể), đáy bể cao hơn mặt sàn > 100 mm. Bản đáy dày 40 – 50 mm, bêtông mac > 150, đặt cốt thép (ị) 6 phía dưới như bản kê bốn cạnh. Cần láng lớp vữa chống thấm bằng vữa ximăng – cát mac > 75, dày 15-20 mm, ngâm nước và đánh màu. Lớp láng này cần dốc vể phía ống xả để lau rửa.
– Nếu là bể đặt trên mặt đất hoặc ngầm dưới đất thì dáy bể gồm các lớp (từ dưới lẽn trên) như sau:
+ Bêtông gạch vỡ (hoặc bêtông đá dâm) vữa mac > 50, dày 150 mm;
+ Lát 1-2 lớp gạch đặc có mac > 75, dùng vữa mac > 50;
+ Láng vữa mac > 75, dày 25 mm (láng lần 1 dày 15 mm, lần 2 dày 10 mm) dốc về phía ống xả hoặc rốn bể (kích thước 200 X 200 mm);
+ Đánh màu.
Trước lúc đổ lớp bêtông gạch vỡ, nền cần được đầm chặt (nếu nền được gia cô’ bằng vôi – đất hoặc cát đầm chặt càng tốt).
Tường bể không nên dài quá 3,0 m và không nên cao quá 1,4 m.
Nếu tường bể dài 1,0 – 2,0 m và cao 0,70 – 0,80 m thì xây dày 110
mm;
Nếu tường bể dài 2,0 – 2,5 m và cao 0,80 – 1,20 m thì xây dày 220
mm;
Nếu tường bể dài 2,5 – 3,0 m và cao 1,20 – 1,40 m thì xây dày 335
mm.
Gạch xây tường bể là gạch đặc có mac > 75, đều đặn, đúng kích thước, không cong vênh, nứt nẻ, xây bằng vữa mac > 50, xây theo kiểu chữ công, mạch vữa phải no và dày không quá 12 mm. Bên ữong tường bể trát bằng vữa mac > 75, dày 25 mm (ưát lần 1 dày 15 mm, lần 2 dày 10 mm), dùng bay miết mạch, đánh màu. Bên ngoài trát bằng vữa mac > 50, dày 15 mm. Trước lúc.trát cần ngâm nước ximãng. Các góc ưong nên trát lượn.
Mặt trong của dáy và tường bể có đặt lưới thép ộ = 0,8 – 1 rồi mới trát vữa thì càng tốt. Nếu vữa có phụ gia chống thấm càng tốt.
Tường bể bằng gạch nên xây giật cấp (phía ngoài) như ờ hình 3.136c (tường chắn nền nhà).
Khi xây tường nèn lắp luôn ống xả (sát chỗ thấp nhất của đáy bể), ống nước vào (cách tấm đậy 200 mm), ống nước ra (cách đáy bể 100 mm), ống tràn (cách tấm dậy 100 mm),…
Tấm dậy thuờng bằng bêtông cốt thép mac 150, dày 40mm, cốt thép đặt phía dưới tấm (cả hai chiều đều đặt <ị>6, cách nhau 100mm, thành ô vuông), láng vữa mac > 50, dày 15 mm, có đánh màu. Cửa bể để xuống kiểm tra, lau rửa,… nhưng phải đậy kín để tránh chuột, bụi,… và rêu mọc. Kích thước cửa 400 X 400 mm, có gờ xung quanh. Nắp đậy cửa bằng tôn hoa hoặc bêtông lưới thép.

b/ Bể bằng vật liệu khác có bể (bồn) bằng inox, bể tôn tráng kẽm, bể bctông cốt thép iắp ghép. Bồn inox và bể tôn tráng kẽm rất phù hợp với diều kiện tận dụng không gian trên nóc Buồng tắm (thường gọi là bể treo) hoặc dặt trên mái và dễ thay đổi vị trí, nếu cần.
Bồn inox có các loại: 310, 500, 1000, 1500, 2000, 2500,. 3000, 4000 và 5000 lít. Theo hình dáng có loại hình trụ (đặt đứng và nầm ngang) và hình cầu. Đây là loại bể cao cấp: bền và dẹp.
Bể tôn tráng, kẽm dày 1 mm, có dai nẹp xung quanh nhưng chỉ dược vài ba năm là han gỉ. Điều quan trọng là lớp kẽm hòa tan nên nước bị nhiỗm bẩn.
Bể bêtông cốt thép lắp ghép dúc thành 6 tấm, dày 25 mm, chở đến nơi dặt dể lắp ghép lại. Bể bền vững, có bán sẵn, tuy có dùng phụ gia chống thấm nhưng không ảnh hưởng đến nước. Các phụ kiện: ống xả, ống vào, ống ra,… đều đã có sẵn trong tấm đúc. Gỉá thành chỉ đắt hơn bể tôn tráng kẽm chút ít.
Bổ, bêtông cốt thép phải dảm bảo các yêu cầu trong TCXD 5641 –
1991. 5 l I

5. Bể xí dã nói ở mục 3.2.1.2, sau đây chỉ giới thiệu một loại bể xí tự hoại thông dụng mà chúng tôi dã phổ biến trên một số báo. Đây là loại bổ xí dược xây bằng gạch, giá thành không dắt lắm mà sử dụng được lâu dài. Hiện trôn thị trường có bán loại bể xí tự hoại bằng composite bền, nhẹ vấ rẻ của Công ty Cỡ khí thủy sản 3, Xí nghiệp COMPO Nha Trang,…
Hệ thống bể xí tự hoại gổm ‘các bộ phận (h.3.233): 1 – bể chứa; 2 – bể lắng; 3 – bể lọc; 4 – hô’ ga. Trên mặt bằng, tùy theo địa hình và diện tích chỗ xây bể có thể bô’ trí thành một hàng như ờ hình 3.233 hoặc thành một cụm như hình 3.234.

Thiết kế các bộ phận khác - P2 1

Hình 3.233

Thiết kế các bộ phận khác - P2 1

Khi bố trí thành một hàng, chiều rộng bể > 800 mm để đủ xây buồng xí ở trên. Bể xí sâu khoảng 800 – 1000 mm và thường xây chìm. Bể chứa (1) có dung tích theo số người sử dụng dung: > 0,2 m3/người. Bổ lắng (2) thường lấy bằng 2/3 bể chứa. Bể lọc 3 thường lấy bằng 1/3 bể chứa. Hố ga có kích thước 400 X 400 mm.
Nếu không đủ chỗ làm ba bể như trên thì bỏ bể lắng (2), tất nhiên nước ra sẽ hôi hơn.
Trước dây. bể lọc (3) thường làm các lớp lọc nhưng qua thực tế các lớp lọc này không cần.
Thông thường ba bể này sâu như nhau nhưng có thể bể lọc cao hơn.
Tường bể xí như tường bể chứa nước bằng gạch. Đáy bể xí như đáy bể nước đặt ngầm dưới đất.
Tường ngăn giữa bể chứa và bể lắng dày 110 mm, khi xây dể hai lỗ bảo hiểm (5) có kích thước bằng viên gạch đặt ngang, cách đáy bể > 400 mm. Đỉnh tường ngân này cũng để hai lỗ thông hơi (6) (giữa hai bể), kích
thước bằng nửa viên gạch đặt ngang, sát tấm đậy. Đặt van (7) như ở hình 3.233 (đầu thấp về phía bể chứa), cách đáy bể > 500 mm.
Tường ngãn giữa bể lắng và bể lọc cũng dày 110 mm, cũng có hai lỗ thông hơi (8) như (6), van (9) cũng như van (7) nhưng cao hơn 50 mm.
Các tường ngăn xây đổng thời vói các tường bao xung quanh bể.
Giữa bể lọc và hố ga dật van (10) như van (9) nhưng cao hơn 50 mm và đặt thêm 1 Ống-ngược lại, để miệng van ngập ưong nước hố ga. Lỗ thoát nước (11) dặt cao hơn miệng ra của van (10) và nước tự chảy vào hệ thống nước thải công cộng.
Các van (7), (9) và (10) còn gọi là cút hoặc dopanh, thường đúc sẵn bằng gốm, có bán sần, nên dùng loại ộ 100 và đặt so le như ở hình 3.233 để kéo dài đường nước chảy.
Tấm đậy trên bể xí dày hơn nhung cáu tạo như tấm đậy bể nước. Nếu bằng các tấm đúc sẵn thì nẽn đúng kích thước vừa đúng với các tường ngăn dể tường dỡ đúng chỗ ghép. Khi đúc tấm đập cần để sẵn lỗ (12) để lắp van (13), lỗ thông hơi (14) cho bể chứa và lỗ thông hơi (15) cho bể lọc. Theo nguyên lý làm việc của bể xí tự hoại, ở bể chứa và bể lọc là hai loại vi khuẩn khác nhau, cho nên hai lỗ thông hơi (14) và (15) phải có dường kính khác nhau: lỗ (14) có ộ 50, lỗ (15) có (ị) 80 – 100. Các ống thông hơi (14) và (15) phải cao hơn mái nhà > 1,0 m nếu là mái dốc và >
3,0 m nếu là mấi bằng (sân thượng). Có thể chỉ cần lỗ thông hơi (15).
Tấm dậy phải cao hơn múc nước trong bể (do van (10) khống chế) > 200 mm để có chỗ chúa khí tạm thời.
Khi dật van (13) phải làm sao cho điểm B cao hơn điểm A thì van (13) mói có tác dụng (nước km cả van (13) dể mùi hôi thối không thoát lên dược). Khi mua van này cần phải kiểm tra điều vừa nói. Khi lắp van (13) xong, cần thử nước xem có đạt yêu cầu như vừa nêu hay không rồi mới lắp bệ xí.