Thi công – Những vấn đề chung

1. Một số quy định khi thi công
Trong suốt quá trình thi công (Xây dựng) nhà phải đảm bảo một số quy đinh sau đây:
1. Không gây lún sụt, nứt đổ,… đối với các bất động sản liền kề và hệ thống hạ tầng công cộng (giao thông, điện, diện thoại, cấp nước, thoát nước,…).
2. Không vi phạm lòng đường, vỉa hè, trật tự đô thị, mỹ quan thành phố, cản trở giao, thông,…
3. Không ảnh hưởng đến cây xanh.
4. Vận chuyển vật liệu, phế thải theo quy định chung.
5. Không gây ô nhiễm môi trường khi thi công:
a/ Thải các chất độc hại: bụi, khí độc, tiếng ồn, rung,… b/ Thải nước bẩn, bùn, rác, phế thải,…
6. Không để xảy ra cháy, nổ.

2. Hồ sơ, bản vẽ thi công
Hổ sơ, bản vẽ thi công phải có các chỉ dẫn sau đây:
1. Các giả thiết tải trọng sử dụng trong thiết kế, sức chịu tải của nền,…
2. Điều kiện đặc biệt về thi công liên quan đến sự ổn định của nhà (các giai đoạn thi công, giàn giáo, thời hạn thi công,…).
3. Đặc trưng của bêtông (liều lượng, cường dô,…) và cốt thép sử dụng, điều kiện gia công cốt thép.
4. Lớp bêtông bảo vệ cốt thép của các bô phận mảnh như bancông,
sênổ,…
5. Bảo quản nhà.
6. Độ an toàn của nhà.

3. Chọn nhà thầu thi công
Thi công đảm bảo chất lượng là yếu tố quyết định chất lượng nhà, cho nên việc chọn nhà thầu thi công phải cần dược quan tâm. Có ba hình thức thuê thi công:
1. Khoán gọn toàn bộ từ vật liệu đến nhân công;
2. Khoán một số công việc;
3. Chỉ khoán phần nhân công.
Thực tế cho thấy rằng, không nên dùng hình thức 1/ vì rất dễ bị ăn bớt vật liệu hoặc mua các vật liệu không đảm bảo chất lượng.
Có rất nhiều nhà thầu nhưng không phải nhà thầu (thường gọi là bên B) nào cũng có kinh nghiêm và làm viộc nghiêm túc. Do vậy nên chọn các nhà thầu có tư cách pháp nhân. Các nhà thầu có tư cách pháp nhân thường có kinh nghiệm thi công, trình độ kỹ thuật của cán bộ giỏi và khi xảy ra rủi ro thì có tính hợp pháp để giải quyết. Các nhà thầu có tư cách pháp nhân thì người chủ thầu phải có chứng chỉ hành nghề.
Muốn thi công nhà hai tầng trở lên, bên B phải có một số thiét bị thi công tối thiểu: máy trộn bêtông, máy đầm, máy hàn, máy cất gạch lát,…

4. Hợp đồng thi công
Hợp đồng thi công là cơ sờ pháp lý ràng buộc trách nhiêm cả hai bên (bên A: chủ nhà, bên B: nhà thầu thi công) và là chứng lý quan trọng khi có tranh chấp.
Trong hợp đổng phải thể hiên tất cả các nội dung công việc và các vấn dề liên quan.
Hợp dồng phải quy định cụ thể thời gian hoàn thành của từng công việc, giá cả, điều kiện thanh toán, bảo hành,… và có các điều khoản về an toàn lao dông, thưởng – phạt.
Hợp dồng phải chặt chẽ, cụ thể.
Khi có khối lượng phát sinh, phải thỏa thuận bổ sung về giá cả, cách thức tiến hành,… bằng văn bản, để tiộn cho viộc quyết toán.

5. Giám sát thỉ công
Giám sát thi công là hoạt động thường xuyên tại nơi thi công, dể quản lý khối lượng và chất lượng các công việc xây lắp của nhà thầu. Dẫu đã chọn được nhà thầu (bên B) tin tưởng thì việc có người giám sát thi công (đại diện cho bên A) vẫn là rất cần thiết, không nên vì muốn tiết kiệm chi phí mà khoán trắng cho nhà thầu, sẽ không tránh khỏi việc làm ẩu, thiếu trách nhiệm, dần đến nhà kém chất lượng.
Người giám sát thi công phải cố chuyên môn, nắm được các quy trình, quy phạm thi công.
Trách nhiệm của người giám sát thi công là:
– Trong giai đoạn chuẩn bị thi công:
+ Kiểm tra vật liệu về chát lượng và quy cách;
+ Kiểm tra thiết bị cho phù hợp.
– Trong giai đoạn thi cổng:
+ Giám sát việc thi công cho đúng bản thiết kế và dúng các yêu cầu kỹ thuật các khâu: trộn vữa, xây, trôn bêtông, dặt cốt thép, dổ – dầm bêtông,…
+ Theo dõi và giám sát thường xuyên việc thi công từng hạng mục và lắp đặt thiết bị.
+ Kiểm tra biện pháp thi công, tiến độ thi công, an toàn lao dộng.
+ Cùng với nhà thầu, giải quyết các phát sinh.
Người giám sát thi cồng không dể nhà thầu tự thay đổi thiết kế. NẾU cần thay dổi thiết kế thì p? ải dược người thiết kế nhất trí.
Khi bêtông bị rỗ hoậ có sai phạm kỹ thuật nghiêm trọng ờ một bộ phận nào dó, phải để ngu’ ân trạng để người thiết kế cho biện pháp xử lý, không được để nhà thầu ti tiện xử lý nhằm xóa sai phạm. Nói chung, các sai phạm khác với bản thi t kế dều phải phá bỏ làm lại dúng thiết kế, trừ trường hợp chủ nhà đồng ’ không cần làm lại.
Không cho chật gạch • Iguyên khi vẫn còn có gạch vỡ.
Không cho dùng gạch vỡ chèn các khối xây chịu lực.
Không cho xây gạch bẩn, có rêu mốc,..,
Khi trời hanh khô, phải tưới nước vào gạch trước khi xây dể gạch không hút nước trong vữa, nhất íầ khi dùng vữa ximãng – cát.
Khi ngừng xây cần phải cho che đậy, bảo vệ khối xây.

6. Giải quyết sự cố và tai nạn lao động
Khi có sự cố hoặc tai nạn lao động, cần phải giải quyết theo trình tự sau đây:
1. Khẩn trương cấp cứu người bị tai nạn (nếu có);
2. Ngăn chặn sự cố tiếp tục xảy ra và bảo vệ hiện trường;
3. Báo cáo với các cơ quan chức nâng (trường hợp nghiêm trọng).

7. An toàn lao động khỉ thi công
Khi thi công, cần tuân theo quy định về an toàn lao động trong TCVN 5308 – 1991 (Quy phạm kỹ thuật an toàn trong xây dựng).
Khi dào móng hoặc làm việc ưên cao, phải hết sức cẩn thận và thực hiện nghiêm ngặt các quy định.
Máy trộn bêtông, trộn vữa, phải do người có chuyên môn vận hành. Không được dùng xẻng để lấy bêtông hoặc vữa khi máy đang chạy.
Khi nghỉ làm không được để vật liệu, dụng cụ trên tường đang xây, sàn công tác hoặc giàn giáo.
An toàn lao đông trong từng công việc xem ờ thi công từng hạng mục.

8. Chuẩn bị thi công
Chuẩn bị thi công bao gồm các công việc sau dây:
1. Giải phóng mặt bằng:
– Phá dỡ công trình cũ (nếu có);
– Dọn dẹp mật bằng thi công.
2. Chuẩn bị cơ sở:
– Chỗ ăn ở cho người thi công (nếu cần);
– Chỗ để vật liệu;
– Điện, nước.
3. Chuẩn bị vật liệu, kinh phí:
– Mua vật liệu, thiết bị;
– Chuẩn bị kinh phí.
4. Chuẩn bị dụng cụ, trang – thiết bị thi công, bảo hộ lao dộng.
5. Nghi lễ xây cất nhà tùy phong tục, tập quán, điều kiện sinh sống của chủ nhân. Thông thường có các nghi lễ sau dây: a/ lễ đông thổ (báo cáo thổ thần, thổ địa và tổ tiên và xin cho trong quá trình thi công dược thuận lợi, may mắn); b/ lễ phạt mộc; c/ lễ cất nóc; d/ lễ cài sào (báo cáo dã làm xong nhà); e/ lẽ an thổ (báo cáo cho thổ thần); f/ lễ đông sàng (dọn vào nhà mới); g/ lễ an cư (báo cáo đã ở yên ổn). Ngày xưa người Việt không bỏ qua lễ b/ và d/ vì quan niệm là mở đầu (b/) và kết thúc (d/). Ngày nay người ta cho rằng a/ là quan trọng.