Gỗ, tre , nứa

1. Các tính chất của gỗ
Về cơ bản, phẩm chất của gỗ dược đánh giá qua các khuyết tật của gỗ. Khuyết tật của gỗ là do cấu tạo tự nhiẽn, bệnh tật của cây, phá hủy
của con người và động vật. Khuyết tật của gỗ bao gồm mắt, bạnh, nứt, xoắn thớ, cong vênh,-.
1. Sức chịu lực của gỗ phụ thuộc cấu tạo và khuyết tật của gỗ, độ ẩm, nhiệt đô môi trường,…
a/ Sức chịu nén dọc thớ của gỗ rất cao (chẳng hạn gỗ Lim Xanh là 760 kG/cm2) nên được dùng làm cột nhà, cột chống ván khuôn,… Sức chịu nén ngang thớ rất nhỏ so với sức chịu nén dọc thớ (chỉ bằng 10 – 20%).
b/ Sức chịu kéo dọc thớ của gỗ cũng rất cao (chẳng hạn gỗ Khuông Tàu là 1970 kG/cm2) nên được dùng làm thanh xà ngang, giằng,… Sức chịu kéo ngang thỚTắì nhỏ so với sức chịu kéo dọc thớ (chỉ bằng 2 – 3%).
c/ Sức chịu uôh của gỗ cũng rất cao (chẳng hạn gỗ Xoay là 2330 kG/cm2) nên thường dùng làm dầm, xà, thanh cánh thượng của kèo,…
2. Độ hút nước (độ ẩm) của gỗ biến đổi rất rộng, gỗ tươi độ hút nước có thể đến 50%, gỗ khô < 5%. Gỗ cứng có độ hút nước nhỏ hơn gỗ mềm nhưng lại lâu khô. Mùa xuân gỗ có độ hút nước cao nhất.
Gỗ đưa dùng phải để khô ít nhất 3 tháng sau khi chặt hạ, trừ khi dùng dưới nước. Gỗ có độ hút nước <5% mới được gia công. Nếu gỗ chưa khô đã gia công thì dễ gia công nhung khi sử dụng dễ bị cong vênh, nứt nẻ.
Độ hút nước có ảnh hường rất lớn đến sức chịu lực của gỗ: độ hút nước tăng 1% thì sức chịu lực có ttíể giảm 2-4%. Độ hút nước còn ảnh hưởng đến khối lượng thể tích, tỷ trọng, tính co nở,… của gỗ.
3. Tính co nỏ của gỗ thay đổi theo độ hút nước làm cho gỗ bị cong vênh, nứt nẻ. Gỗ mềm co nở ít hơn gỗ cứng, dọc thớ co nờ ít hơn rất
nhiều so với ngang thớ.
Để tránh cho gỗ khỏi cong vênh, nứt nẻ, có thể theo các cách sau
đây:
– Xẻ gỗ theo chiều xuyên tâm;
– Trước khi dùng cần sấy hay hong khô đến độ hút nước < 5%;
– Sơn mặt gỗ ngay sau khi gia công, tránh cho gỗ thay đổi độ hút nước đột ngột;
– Tránh đóng dinh chặt cả hai phía của ván gỗ.
Gác tính chất của gỗ phụ thuộc loại gỗ, điều kiện (đặc biệt là đô hút nước),… GỖ cách nhiệt gấp 12 lần bêtông, nhưng có thể bị mốc và côn trùng phá hoại. Cần bảo quản tốt và có biện pháp phòng chống mốc, côn trùng. Tránh mục cho gỗ bằng cách quét bitum, dầu thông, thủy tinh lỏng,… Gỗ là vật liệu dễ cháy.
Một số tính chất của gỗ như ờ bảng 2.6.
Bảng 2.6

Gỗ, tre , nứa 1

Các tính chất khác xem ở mục 2.1.

2. Các loại gỗ
Theo TCVN 1072 – 1971, gỗ có 6 nhóm phụ thuộc sức chịu nén dọc thớ, uốn khi chịu tải trọng tĩnh, kéo dọc thớ, cắt dọc thớ,… Khi không có các sô’ liệu nêu trên thì theo khối lượng thể tích. Theo QĐ 2198 ngày 26- 11-1977 của Bộ Lâm nghiệp thì gỗ có 8 nhóm theo sử dụng:
Nhóm I gổm các loại gỗ quý: Lát, Gụ, Trắc, Kim Giao, cẩm Lai, Pơmu, Giáng Hương, Trầm Hương,…
Nhóm n thường gọi là thiết mộc, rất rắn, chịu lực tốt: Đinh, Lim, Sến, Táu,…
Nhóm m thường gọi là sắc mộc, có khả năng chống côn trùng phá hoại, nấm mốc, như Chò Chỉ, Giổi, Vàng Tâm, Sao,…
Nhóm n và nhóm in có khối lượng thể tích 1000 kg/m3.
Nhóm IV thường gọi là hồng sắc A, nhẹ nhưng bền, có công dụng phổ thông, khối lượng thể tích 910 kg/m3: Mít, Giổi, De,….
Nhóm V cũng gọi là hồng sắc A, nhưng kém hơn, dùng cho nhà loại vừa, khối lượng thể tích 770 kg/m3: Giẻ, Muồng, Sàng, Xà Cừ, Xoài,…
Nhóm VI thường gọi là hồng sắc B, kém hơn nhóm V, dùng cho nhà lọâi vừa và nhỏ, khối lưỢng thể tích 710 kg/m3: Bạch Đàn, Bứa, Sồi, Xoan,…
Nhóm vn thường gọi là hồng sắc c, kém hơn nhóm VI, dùng cho nhà loại nhỏ, khối lượng thể tích 670 kg/m3: Cao Su, Trám, Me,…
Nhóm vm thường gọi là gỗ tạp, dùng làm ván khuôn, đồ mộc, khối lượng thể tích 550 kg/m3: Dâu da xoan, Duối rừng,…
Ngoài ra còn phân loại theo đường kính cây (không có vỏ), theo phẩm chất,…
Theo mức độ khuyết tật, gỗ xẻ có 3 cấp chất lượng A, B và c. Kích thước cơ bản của gỗ xẻ như ờ trong TCVN 1075 – 1971 (Gỗ xẻ. Kích thước cơ bản). Gỗ xẻ tự nhiên ít ảnh hưởng đến sức khỏe so với gỗ dán, nhưng phải xử lý bề mặt bằng hóa chất và chống nấm mốc, mối mọt.
Gỗ ván có kích thước (mm) như ở bảng 2.7.
Bảng 2.7

Gỗ dán có nhiều loại, dày 4 – 12 mm, tối thiểu phải dán 3 lớp. Gỗ dán dùng nơi khô ráo, để lằm trần, vách,…

3. Quy định vể sử dụng gỗ
NĐ 10 CP của Chính phủ quy định (trích):
– Làm dầm, kèo, xà gồ cho nhà quan trọng được dùng gỗ nhóm n, trừ Lim Xanh, Táu Mật, Nghiến.
– Làm dầm, kèo, xà gồ cho nhà thông thường thì dùng gỗ nhóm V. Nêu dùng gỗ nhóm VI thì phải ngâm tẩm thuốc chống côn trùng, nán mốc.
Cánh cửa nhà thông thường thì dùng gỗ nhóm VI trở xuống, cầu phong, litô, lati dùng gỗ nhóm VI trở lên.
– Làm nhà tạm (2-5 năm) thì dùng gỗ nhóm VI trở xuống, nếu có tre thì cần tận dụng tre.
– Làm ván khuôn, giàn giáo thì dùng gỗ nhóm vn, nhóm vin, riêng ván công tác thì dùng gỗ nhóm VI, nhóm vn. Cột chống thì dùng gỗ nhóm VI trở xuống nhưng cần tận dụng tre.

4. Lựa chọn gỗ
Gỗ dùng trong Xây dựng nhà cần chọn như sau:
1. Gỗ phải khô, chắc, bền, không cong vênh,… Gỗ dùng làm cột chống phải thẳng. Gỗ làm dầm, xà gồ,… có thể cong (phần cong lồi phải dặt hướng lên trên).
1. Không được dùng gỗ chịu lực ngang thớ, vì khi đó sức chịu lực của gỗ rất kém (xem mục 2.11.1).
2. Không dùng gỗ bị nứt dọc thớ và có mắt quá quy định, nhất là “mắt chết” (thường có màu đen kịt).
3. Không dùng phần gỗ giác (bên phía ngoài thân cây) để làm những bộ phận sử dụng lâu dài. Gỗ giác mềm, chịu lực kém, dễ co nở, mối mọt.

5. Tre, nứa
Tre, nứa, trúc, mai, sặt, luồng, hóp,… có nhiều ở nước ta, cần tận dụng. Các loại này có độ co nở theo chiều dài 3,5 – 4,5%, theo chiều rộng 7 – 8%, theo thể tích khoảng 10%. Sức chịu kéo của tre có thể đến 1600 – 2000 kG/cm2.
Tre gai có tuổi 6 – 8 năm, có thể làm cọc cho móng cọc, cột, kèo, xà gổ, cầu phong,… trong nhà ở nông thôn, làm giàn giáo,…
Luồng (bương) có tuổi 5-8 nãm, được dùng nhiều trong xây dựng nhà, dùng như tre nhung thông dụng hơn.
Diễn có tuổi 6-8 năm, dùng làm phên, vách trát vôi rơm, bùn rơm,…
Vầu có tuổi 5-8 năm, dùng như diễn.
Nứa dùng làm phên,…
Ngoài ra còn có trúc dể làm vật liệu trang trí, tấm cót tre (dán keo) để làm vách ngăn, trần treo,…
Cần chật hạ vào tháng 11 đến tháng 2 dương lịch để có hàm lượng nước trong cây thấp nhất và bảo quản để tránh côn trùng và nấm mốc.