Đổ và đầm bêtông

1. Yêu cầu khi đổ bêtông
1. Trước khi đổ bêtông cần kiểm tra hình dạng, kích thước, vị trí, độ hở, độ ổn định, chắc chắn của ván khuôn, sàn công tác.
2. Kiểm tra cốt thép và các bộ phận đật trước: dây điện đặt ngầm trong bêtông, đường ống qua bêtông,…
3. Bêtông ưộn xong phải dổ ngay và đổ liên tục, khẩn trương cho xong từng côt (trong một tầng), đầm, sàn (dầm và sàn thường dổ bêtông cùng một lúc).
4. Chiểu dày lớp bêtông đổ phụ thuộc kích thước kết cấu và dụng cụ đầm (bảng 4.34).
Bảng 4.34 5

Đổ và đầm bêtông 1

6. Vữa bêtông phải lấp đầy các góc của ván khuôn, chèn đầy các khoảng cách giũa các cốt thép.

2. Yêu cầu khi đầm bêtông
1. ĐỔ bêtông từng iớp như bảng 4.34, san phảng và đầm ngay.
2. Dùng dầm máy, khi không có dầm máy mới dầm thủ công. Đầm thủ công khó đảm bảo chất lượng bêtông và năng suất thấp.
3. Khi đầm thủ công thì dùng dầm gang giơ cao 100 – 150 mm (không giơ cao quá có thể tạt) lực mạnh làm phình ván khuôn), dầm đều,
Các góc ván khuôn hoặ’ gần thành ván khuôn, nơi có thép dày, … cần dùng xà beng, que sắt đương kính 14 -16 mm, dao xây chọc kỹ.
Trong quá trình đầm, cẩn gõ nhẹ vào cốt thép để vữa bám vào cốt thcp, gõ nhẹ vào ván khuôn dể bỗtông dồn xuống cho chặt.
4. Đầm máy có loại đầm bàn (đầm mặt) dùng khi kết cấu dày < 200 mm; đầm dùi (đầm chày) dùng khi kết cấu dày > 200 mm và đầm rung gắn ngoài ván khuôn có tác dụng như dầm trực tiếp.
Thời gian đầm máy tại mỗi vị trí như sau:
30 – 50 giây – đối với đầm bàn;
20 – 40 giây – đối với đầm dùi.
Khi đầm dùi, phải rút đầm lên mới tắt động cơ, tránh dể lại vết lõm trong bêtông.
Khi đầm bàn, phải kéo từ từ, các dải chồng lên nhau 100 – 200 mm.
5. Đẫm không kỹ thì bêtông có thể bị rỗ, rỗng nhưng đầm quá kỹ thì bêtông có thể bị phân tầng. 
6. Cần đặt ván lên bêtông mới đổ để đi lại, đứng đầm, tránh làm thay đổi vị trí cốt thép.
7. Trong quá trình đầm cần tránh làm sai lệch cốt thép, cần theo dõi ván khuôn, nhất là hệ thống cột chống, nếu thấy có hiện tượng không bình thường thì phải ngừng đầm để khắc phục.
8. Đầm đến dâu cần chọc thăm dò để đảm bảo đủ chiều dày bản.
9. Dùng bàn xoa gỗ (không dùng bàn xoa sắt) vỗ mạnh, đều khắp, xoa phẩng. Nếu xoa mà không vỗ thì có thể trên mặt liền kín nhưng phía dưới thì bị rỗng.
10. Mặt bồtông có ốp, lát thì không được xoa nhẫn và khi vữa se phải khía rãnh theo lưới quả trám. Khoảng cách các rãnh khía phải < 50 mm.
Khi đổ và đầm bêtông cần đảm bảo các yêu cầu về an toàn lao dộng như sau:
1. Khi dổ bẽtông ở những bô phận có dộ nghiêng > 30°, chẳng hạn cầu thang, phải có dây neo buộc chắc chắn thiết bị, người phải đeo dây an toàn.
2. Khi dùng đầm rung cầu nối vỏ đám với dất, không để máy làm việc liên tục quá 30 phút, người phải có ủng cao su cách điện và găng tay.

3. Ngâm nước ximăng
Ngâm nước ximãng cho sàn những nơi cần chôhg thấm (sàn mái bằng, sàn khu phụ,…) là giải pháp kỹ thuật phụ trợ tốt, đổng thời qua đó đánh giá chất lượng thi công bêtông, bời vì nếu nước thấm ít hoặc tốt nhất là không thấm xuống dưứi khi ngâm nước ximăng tức là thi công bêtông đã đảm bảo chất lượng.
Cách ngâm nước ximăng như sau: Sau khi đổ bêtông một vài ngày, xây hai lớp gạch đặc xung quanh diện tích cần ngâm nước ximãng. Cho
5 – 7kg xiraăng vào lm3 nước đến khi dạt lớp nước dày > 100mm. Dùng chổi tre khuấy đều (đi ủng). Cứ 2 – 3 giờ lại khuấy một lần dến khi nưởc không ri xuống dưới sàn mới thôi. Nếu sau 1 tuần mà nước vẫn ri xuống dưới sàn thì tháo nước cũ, quét sạch lớp ximãng đọng trên mặt sàn, dùng ximăng mới làm như trên dến khi nước không ri xuống dưới sàn mới thôi.
Nên bắt đầu ngâm nước ximăng khi nắng nhất (lúc 15 giờ hàng ngày), vì khi dó các vết nứt mở rộng nhất.
Khi ngâm nước ximăng xorig thì tháo nước, quét bỏ và rửa sạch ximãng ngâm nước đọng lại trên mặt sàn và láng vữa.