Chất dính kết – P4

4. phụ gia đông cứng nhanh
Để rút ngắn thời gian đông cứng của ximăng, người ta dùrig clorua vôi 1-5% khối lượng ximãng, axít clohydric loãng (1-2%), thạch cao hoặc vôi sống nghiền nhỏ.
Có thể dùng PD hoặc RN1 (của Trường đại học Xây dựng), Puzolith, clorua sắt (2%, hòa vào nước ưộn bêtông hoặc vữa), nitrat natri (3%), aluminat natri (3-5%),…

5. Phụ gia đông cứng chậm
Phụ gia đông cứng chậm dùng khi muốn kéo dài thời gian đông cứng của bêtông. Có thể dùng LHD, PA-95,…

6. Phụ gia chống thấm
Phụ gia chống thấm còn gọi là phụ gia kị nước, phụ gia cách nước.
Có thể dùng các phụ gia sau đây dể chống thấm cho bêtông: KD88 (dùng với mọi loại ximăng, lượng nước dùng sẽ ít hơn, liều lượng 0,05- 0,30% lượng ximăng tùy đối tượng và yêu cầu). Hỗn lợp lognhin + thủy tinh lỏng + phèn nhôm; LHD, KANA (của Viện Nghiên cứu Vật liêu xây dựng), PD, BENTT (của Viện Khoa học Thủy lợi), ASP-97, clorua sắt, nitrat natri, aluminat natri, nitrat canxi, colophan, natri,…

7. Phụ gia chống ẩm
Phụ gia này dược dùng khi sản xuất ximăng, để tạo cho ximãng tránh hút ẩm trong quá trình bảo quản. Thuộc loại phụ gia này có KDCS của Viện KHKT Xây dựng.

8. Phụ gia chống co ngót
Có thể dùng clorua sắt 1-2% khối lượng ximăng hoặc niratnatri 1% để chống co ngót cho bẻtông.

9 Phụ gia gây nỏ
Đó là phụ gia làm tăng thể tích của bêtông, chẳng hạn phụ gia alunit của Viện KHKT Xây dựng.
Ngoài ra còn có phụ gia cuốn khí để tạo khí khi sản xuất bêtông bọt, chẳng hạn ASP-97; phụ gia táng ẩộ bám dính giữa bêtông và cốt thép, chằng hạn phụ gia tổng hợp dạng bột của Công ty Thí nghiệm Giao thông I; phụ gia bảo vệ cốt thép khỏi bị ăn mòn, chẳnto hạn phụ gia tổng hợp dạng bột vừa nêu, lignhin,… phèn chua để giữ màu vôi ve,…

III VỮA
Vữa là hỗn hợp gồm chất dính kết (ximãng hồ vôi, hồ đất sét, hồ thạch cao,…), cốt liệu (cát, bột đá) và nước (có khi còn thêm phụ gia,…), được nhào trộn đều theo một tỷ lê nhất định, phù hợp với từng yêu cầu sử dụng, khi đông cứng thành một khối thì đặc chắc và có sức chịu lực (cường đô).
Vừa dùng để xây, trát, lát, ốp, láng,…
1. Các tính chất của vữa
Ngoài các tính chất chung như đã nói ở mục 2.1, vữa còn có các đặc thù trong tính chịu lực (cường độ, mac), tính giữ nước (độ phân tầng), tính linh đông (độ sụt), tính dẻo (độ dẻo), tính dính kết (độ bám dính), tính co nở (hệ số.co nở), thời gian đông cứng,… Được phép dùng phụ gia để cải thiện một sô’ tính chất của vữa.
1. Tính chịu lực dược đặc trung bằng sức chịu lực (cường độ). Mac vữa là trị số trung bình của sức chịu nén giới hạn của các mẫu vữa hình lập phương mỗi cạnh 2Ò cm, bảo dưỡng 28 ngày trong điều kiên tiêu chuẩn (đô ẩm 90-100%, nhiệt độ 15-20°Q. Mac vữa phụ thuộc:
– Chất lượng của chất dính kết (với ximăng còn là mac) (ảnh hưởng lớn);
– Liều lượng vật liêu (tỷ lệ pha trộn, thành phần cấp phối) (chủ yếu);
– Chất lượng cát;
– Chất lượng nước và lượng nước trong vữa (nước quá nhiều sẽ giảm mac vữa);
– Chất phụ gia (đúng yÊu cầu và đúng liều lượng);
– Kỹ thuật trộn…
Khi chỉ cần vữa mac thấp thì nên dùng ximãng mac thấp để có được tính lưu động và tính giữ nước theo yêu cầu.
Vữa có mac 2, 4, 10, 25, 50, 75, 100, 150 và 200, dôi khi dùng mac 8; .15, 30, 80 và 125. Thông thường dùng vữa mac 2 – 50, mac >75 phải theo yêu cầu của thiết kế.
Việc chọn mac vữa phải cãn cứ theo công dụng của vữa và cấp nhà. Chẳng hạn, xây tường ngoài của nhà kiên cố hay ẩm ướt thì phải chọn mac vữa không thấp hon 50; xây cột, tường giữa các ô cửa, vòm cuốn,… thì mac vữa 25 – 50.
2. Tính giữ nước được đặc trung bằng độ giữ nước. Độ giữ nước phụ thuộc loại vữa, phương pháp pha trộn, chất lượng và quy cách của vật liệu. Đô giữ nước của vữa còn phụ thuộc lượng nước dùng để trộn vữa, kích thước của hạt cát. Nước nhiều, cát hạt to thì tính giữ nước kém (độ giữ nước lớn).
Muốn tăng tính giữ nước thì không được cho thêm nước, mà phải dùng phụ gia.
3. Tính lưu động của vữa là khả năng rải được thành lớp mỏng, đều và cân bằng được viên xây, đảm bảo cho việc truyền và phân phối đều ứng suất trong khối xây.
Tính lưu động của vũa được đặc trưng bằng độ lưu động hoặc độ sụt, độ sệt, độ quánh và xác định bằng “hình nón cụt”.
Vữa có tính lưu đông cao giúp cho người thợ dễ tăng năng suất lao đông và đảm bảo kỹ thuật xây, trát, nhưng nếu cao quá thì khó xây, trát, khó đảm bảo cường độ khối xây.
Tuỳ theo loại khối xây, điều kiện và nhiệt độ thi công mà yêu cầu về tính lưu động của vữa khác nhau để làm sao dễ bám đính vào mặt trát, dễ dàn đều trên mặt. lớp xây, không trồi ra mép khối xây. Nhiệt độ càng cao, viên xây (hoặc mặt trát) càng khô, càng xốp thì tính lưu đông càng phải cao.
Để tăng tính lưu dộng của vữa người ta thường cho thêm cát mịn, chất dính Kết hoặc phụ gia chứ không tăng thêm nước.
4. Tính dính kết được đặc trưng bằng độ bám dính. Độ bám dính của vữa là khả năng bám dính của vữa với viên xầy hoặc mặt trát (lát, ốp,
láng), phụ thuộc số lượng và chất lượng chất dính kết, mac và độ dẻo của ữa, độ nhám, độ sạch, độ ẩm của viên xây, của mặt trát.
Vữa đông cứng nhanh có tính dính kết kém hơn vữa đông cứng ;hậm, vữa khô kém tính dính kết hơn vữa dẻo.
5. Tính co nở được đặc trưng bằng hệ số co nở.
Vữa khi khô thì co tương đối lớn, còn khi ẩm ướt thì nở không đáng kể. Khi vữa quá nhiều ximăng hoặc quá nhiều nước (nhão quá) thì hệ sô’ co nở lớn, gây ra rạn nứt. Vữa đông cứng chậm có độ co nở bé.
6. Thời gian ninh kết của vữa phụ thuộc tính chất của chất dính kết: vữa thạch cao ninh kết nhanh nhất, vữa vôi chậm nhất. Thời gian ninh kết của vữa còn phụ thuộc độ dẻo của vữa: vữa nhão ninh kết chậm hơn vữa dẻo. Nhiệt độ không khí cũng ảnh hwỏng đến thời gian ninh kết của vữa: trời lạnh, mưa thì vữa ninh kết chậm.
Các tính chất khác xem ở mục 2.1.