Chất dính kết – P3

II. chất dính kết HỮU CƠ
Chất dính kết hữu cơ được chế tạo chủ yếu từ than đá và dầu mỏ. Hai chất dính kết hữu cơ thường dùng ương Xây dựng là bitum (phổ biến nhất) và gudrong. Hai chất này thường có màu đen, nâu thâm, có thể ở dạng cứng dẻo quánh hoặc lỏng. Nếu nấu chúng ở nhiệt độ khác nhau thì tính dẻo, tính dính kết,… sẽ thay đổi.
Chất dính kết hữu cơ ở trạng thái nóng chảy hay lỏng có tính linh động cao, dễ nhào trộn và có khả năng dính kết với cát, đá, sỏi,… thành một khối cứng ổn định và có sức chịu lực.
Chất dính kết hữu cơ không (hoặc rất ít) ngậm nước và nói chung có tính chịu nước cao nên được dùng làm vật liệu chịu nước, chống thấm,…
Chất dính kết hữu cơ có khả nãng chịu nước ãn mòn, chịu axịt, ít thay đổi với thời tiết nên được dùng ở nơi thường có nước ăn mòn, nơi khí hậu bất thường.

1. Bitum
Bitum còn gọi là hắc ỉn, nhựa dầu mỏ,… nhưng quen gọi là nhựa đường.
Bitum có khối lượng tl ị tích 2300 kg/m3, độ hút nước không đáng kể, hệ số co nở D = 30 – 60 :ô X 10’6. .*
Bitum là vật liệu độc fcii, được dùng chủ yếu để làm chất dính kết . trong vữa atphan, bêtông atphan. Bitum còn được dùng để dán hoặc’quét lên mặt các lớp giấy dẫu, mặt các khối xây để làm lớp cách nước, điều chế thành nhựa để chống thấm, chống mục cho gỗ, chống gỉ cho sắt, làm, các loại mattit chịu axit, vật liệu cách điên, sơn lắc,… ;ỳ
Bitum tan trong dung môi hữu cơ (xăng, dầu hốa, benzen, clorophon, cacbon disunphua,…).
Hốn hợp bitum và chất khoáng nghiền nhỏ là atphan. Atphan nhân tạo thường được gọi là mattit at phan, là hỗn hợp 13 – 16% bitum dầu mỏ với bột vôi sống. Trộn mattit atphan với cát (hoặc bột đá) thành vữa, sỏi (hoặc đá dăm) thành bêtông dể làm sàn, mái nhà, vỉa hè, chống thấm, xây dựng đường, sân bay,…
Bitum lòng nguội được dùng để quét lên mặt gỗ dể phòng mục, quét lên mặt kim loại để phòng gỉ, quét làm lớp lót chống thấm,…
Mattit bitum (mattù nhựa) nguội ờ dạng lỏng được giữ trong thùng nắp kín vài tháng vẫn dùng dược. Nó dược dùng để dán các lóp giấy dầu rubêroit, sơn quét chống thám, chít các khe co giãn, chống mục cho gỗ, chống gỉ cho sắt thép, chống hà, cách điện,…
Mattit bitum nóng được dùng làm lớp cách nước, dính kết giấy dầu, tẩm vào cactông và vải để chế tạo mattit chịu axit,…
Do có nhiều ưu điểm nên mattit bitum nguội được dùng nhiều hơn mattit bitum nóng.

2. Gudrong
Gudrong là sản phẩm của quá trình gia công các chất hữu cơ như than đá, than bùn, gỗ,… Trong xây dựng thường dùng gudrong than đá (nhựa than đá).
Tính dẻo của gudrong giảm nhanh khi nhiệt đô tăng. Tính chịu tác dụng của khí hậu của gudrong thấp, dễ hóa giòn và dễ bị hư hỏng khi nhiệt đô và các điều kiện thời tiết thường xuyên thay đổi trong quá trình sử dụng.
Gudrong có các công dụng tương tự bitum, nó được dùng làm chất dính kết phủ mặt sàn, giấy dầu, lớp phòng nước, sơn,…

III phụ gia
Phụ gia là chất thêm với một lượng nhỏ vào hỗn hợp bêtông hoặc vữa để cải thiện một số tính năng của hỗn hợp. Trong phụ gia thưòng có: chất tạo màu, chất cải thiện tốc độ đông cứng, chái làm dẻo, chất chống thấm nước,…
Trong khi chờ đợi ban hành tiêu chuẩn về phụ gia thì khi sử dụng phụ gia phải thận trọng và phải theo hướng dẫn của nơi chế tạo, người thiết kế.
Hiện nay nước ta đã sản xuất được hơn 20 loại phụ gia (chủ yếu dùng cho bêtông), như KĐT2, KĐNA, KENTT, RN-1, TC, LHD, AC – 89, complex,… Tuy vậy chưa có đánh giá cụ thể của các cơ quan chức năng nên khi dùng phụ gia phải thận trọng, nhất là ăn mòn cốt thép. Mỗi loại phụ gia có tính năng, tác dụng khác nhau, do vậy cần phải dùng đúng mục đích.

1. Phụ gia tiết kiệm ximăng
Khi chế tạo bêtông hoặc vữa, nếu phải dùng lượng ximãng nhiều thì có thể dùng phụ gia này để tiết kiệm ximãng trong các trường hợp sau đây:
1. Khi bêtông (không có cốt thép) hoặc bêtông đá hộc có mac < 100, cho thêm 30 – 50% (theo khối lượng ximãng) đá trep)en nghiền hoặc xỉ nghiền, tro nghiền hoặc đất sét khô nghiền.
2. Khi chế tạo các sản phẩm bêtông cốt thép chưng hấp, dùng XX hạt nghiền hoặc bộttrepen nghiền.
3. Khi chế tạo bêtông hoặc bêtông cốt thép có mac > 100 và dùng ximăng mac > 300 thì dùng xi nghiền, tro nghiền, trepen nghiền, đất sét, khô nghiền. Các phụ gia này thường làm chậm thời gian đông cứng, do vậy muốn tháo dỡ ván khuôn sớm thì phải cho 1 – 2% (theo khối lượng)
clorua vôi (clorua canxi).
Còn có thể dùng đồng thời phụ gia PD tăng dẻo và dông cứng nhanh của Viện KHKT Giao thông vận tải khi chế tạo bẽtông sẽ tiết kiệm được 15% khối lượng ximãng so với bêtông cùng mac.
Loại phụ gia tổng hợp dạng bột đo Công ty Thí nghiêm Giao thông I nghiên cứu sản xuất dùng khi chế tạo bêtông sẽ giảm được 50 kg ximăng cho 1 m3 bêtông.
Khi dùng phụ gia LHD, LHD – 82 của Viện KHKT Xây dựng cũng có thể giảm được 5-15% lượng ximãng (vẫn giữ nguyên cường độ).
Khi dùng phụ gia PA – 95 của Công ty Thí nghiệm Giao thông I cũng có thể giảm được 15% lượng ximăng (vẫn giữ nguyên độ dẻo).

2. Phụ gia tăng sức chịu lực
Để tăng cường độ của bêtông, vữa có thể dùng các phụ gia sau đây:
– Phụ gia KD 88 tăng 15% trong điều kiện bình thường,
10% trong điều kiện nước biển;
– Phụ gia lignhin tăng 18% trong điều kiện bình thường;
13% trong điều kiện nước biển;
– Phụ gia PD tăng sức chịu nén, chịu uốn;
– Phụ gia LHD, LHD – 82 tăng 8 -15%;
– Phụ gia Puzolith tăng 10% (khi giảm nước và giữ độ sụt).

3. Phụ gia tăng dẻo (còn gọi là phụ gia hóa dẻo)
Chất tăng dẻo có tác dụng tăng tính dẻo (độ dẻo) và tính giữ nước của bêtông và vữa, có các loại sau đây:
– Cao vôi (không được dùng quá liều lượngrsẽ giảm cường độ);
– Cao đất đèn (tác dụng như cao vôi);
– Keo nhựa thông (màu xám sẫm);
– PD (tăng độ dẻo lên 2-4 lần);
– Phụ gia tổng hợp dạng bột của Công ty Thí nghiêm Giao thông I (tăng độ dẻo lên 2 lần);
– LHD, LHD – 82 (dùng 0,2% khối lượng ximãng);
– PA -95 do Công ty Thí nghiêm Giao thông I nghiên cứu, sản xuất, tăng dẻo gấp 3 lần (khi giữ độ dẻo thì giảm được lượng nước > 20 //m3 bêtông, mà vẫn giữ cường độ). Phụ gia này thích hợp cho bêtông trộn sẵn (thời gian vận chuyển có thể đến 1 giờ); bêtông khối lớn; thi công vào ngày nóng; thi công kéo dài;
– Puzolith cũng do Công ty Thí nghiệm Giao thông I nghiên cứu, sản
xuất.
Phụ gia này còn giảm độ phân tầng, chống thấm, thích hợp cho các bô phận nằm trong đất, trong nước.
– Dầu thảo mộc và xút: Dùng cho vữa (vữa ximăng, vữa tam hợp), không dùng cho vữa ximăng – đất sét, vữa vôi – xỉ.