Chất dính kết – P2

3. Vôi puzolan đông cứng được trong không khí và trong nước, cũng có vôi puzolan thiên nhiên và vôi puzolan nhân tạo, vôi puzoian bình thường và vôi puzolan ximãng.
Vôi puzolan thiên nhiên dược khai thác từ tro núi lửa, được dùng từ rất lâu. “
Vôi puzolan nhân tạo được sản xuất bằng cách dùng đất puzolan nung, trộn với vôi bột theo tỷ lệ 1 vôi + 3 puzolan, nghiền mịn và đóng
1600 kg/m3, có mac 150, 200, 250, 300, 400 và 500 (ký hiệu là PC 15, PC 20,… sau khi trộn với nước 45 phút thì.bất đẩu ninh kết và kết thúc sau 12 giờ,…).
Ximăng pooclãng được dùng phổ biên nhất, để làm bêtông, bêtông ẹốt thép, vữa cho các bộ phận nhà trên mặt đất, dưới mặt đất, trong nước không có tính ăn mòn (nước xâm thực), có thể dùng cho nhà chịu tải ưọng không cao, các bộ phận chịu áp lực nước không lớn. Không dùng cho các kết cấu chịu nước ãn mòn (nếu không có các biện pháp bảo vệ đặc biệt), chịu axit.
Khi ximãng dùng cho vữa có thể kẽt hợp với vôi, đất sét, xỉ,… dể tiết kiêm ximăng (xem ở mục 2.9.2).
Ximãng pooclãng phải đạt các yêu cầu TCVN 2682 – 1992 (Ximăng pooclăng).
ĩũmâng pooclăng đông cứng nhanh mang tên xìmăng aỉuminat, còn gọi là ximăng nhôm oxit, dược sản xuất như ximăng pooclăng nhung không có thạch cao. Chỉ sau 1 ngày cường độ của ximãng nẵy đã bằng sau 1 tháng, thậm chí chỉ sau 1 – 2 giờ đã đạt cường độ thiết kế để đưa công trình vào sử dụng và không cần bảo dưỡng cho bêtông. Ximãng này chỉ dùng khi cần đưa nhanh công trình vào sử dụng (không nên lạm dụng) hoặc để sửa chữa bêtông.
Ị Ximăng pooclăng bền sunphơt, còn gọi lả ximâng pooclăng chống sunphat, được dùng cho các bộ phận chìm ữong nước biển hoặc vùng biển, ký hiệu PCS 30 và PCS 40 (bền sunphat thường), PCHS 30 và PCHS 40 (bền sunphat cao), sau khi trôn với nước 45 phút thì bắt đầu ninh kết và kết thúc sau 6 giờ 15 phút.
Ximăng pooclăng bền sunphat phải đạt các yêu cầu của TCVN 6067 – 1995 (Ximãng bền sunphat. Yêu cầu kỹ thuật).
/ũmăng pooclăng ít tỏa nhiệt được dùng cho bẽtông khối lớn, ký hiệu PQH 30A, PCLH 30 và PC 40, sau khi trộn với nước 45 phút thì bắt đầu ninh kết và kết thúc sau 10 giờ.
Ximãng pooclăng ít tỏa nhiệt phải đạt các yêu cầu của TCVN 6069 – 1995 (Ximãng ít tỏa nhiệt. Yêu cầu kỹ thuật).
Ximăng pooclăng giãn nở để loại trừ hiện tượng co ngót của ximãng (bêtông). Đây là loại ximãng đông cứng nhanh, không thấm nước. Dùng ximãng này để khắc phục các khe hở, kẽ nứt, mối nối, chống thấm,…
Ximăng pooclăng chống ẩm được sản xuất như ximăng pooclãng thông thường nhưng có trộn thêm phụ gia xà phòng hoặc axit olêic. Các tính chất của ximãng này như ximãng pooclãng thông thường. Ximãng này chỉ để dễ bảo quản và không bị giảm chất lượng khi để lâu.
Xìmăng pooclăng trắng (gọi ngắn gọn là ximăng trắng) được dùng khi cần vữa có màu trắng, như khi trát mạch lát, ốp,…, ký hiệu PCW 25, PCW 30 và PCW 40, sau khi trộn với nước 45 phút thì bắt đầu ninh kết và kết thúc sau 10 giờ.
Ximăng pooclãng trắng trên thị trường nước ta có nhiều loại, chẳng hạn của Hải Phòng, Thái Bình, Trung Quốc, Singapo, Hàn Quốc,…
Ximăng pooclăng trắng phải đạt các yêu cầu của TCVN 5691 – 1992 (Ximãng pooclăng trắng).
2. Xừnăng póoclăng – puzolan, còn gọi là ximăng puzolan có màu đỏ, khối lượng thể tích 800 – 1000 kg/m3, có mac 200, 250, 300, 400 và 500, ký hiệu PCpuz 20, PCpuz 30 và PCpuzifiO, sau khi trộn với nước 45 phút thì bắt đầu ninh kết và kết thúc sạu 12 gi^x
Ximãng pooclăng – puzolan được sần xuất như ximãng pooclăng nhưng khi nghiền clanhke có cho thêm đất puzolan(1) và một ít thạch cao.
{1) Đất puzolan là loại phụ gia hoạt tính, chiếm 30 – 40% khối lượng ximăng pooclãng puzolan.
Ở nước ta loại ximăng này cũng được dùng nhiều, có giá rẻ hơn.
Ximãng pooclãng – puzolan dễ hút nước và dễ mất nước, do vậy nếu dùng ở những nơi có môi trường khô ẩm thất thường thì co giãn thay đổi lớn nên bêtông dễ bị rạn nứt.
Ximãng pooclăng – puzolan dùng làm bêtông, bêtông cốt thép, vữa của các bộ phận dưới đất, nước có xâm thực, nước ngầm, kể cả những noi cần chống thấm (kho chứa, công trình ngẫm), chống xâm thực, tất nhiên cả nơi ẩm nhiều và thường xuyên ẩm. Ximăng này không dùng ở những nơi bị khô hanh, có mực nước thay đổi, các kết cấu mỏng. Khi dùng ximãng pooclãng – puzolan thì phải bảo dưỡng cẩn thận hơn ximãng pooclãng thông thường và không được tháo dỡ ván khuôn sớm, vì thời gian dông cứng của nó dài hơn. Trong thời gian ximăng đông cứng cần tưới ẩm thưòng xuyên, nếu không thì bêtông dễ bị nứt bề mặt.
Ximãng pooclăng – puzolan phải đạt các yêu cầu của TCVN 4033 – 1995 (Ximăng pooclãng puzolan. Yêu cầu kỹ thuật).
3. Ximáng pooclăng – xỉ lò cao được chế tạo bằng cách trộn 20 – 50% (theo khối lượng) bột xỉ lò cao nghiền nhỏ với ximăng pooclăng, có khối lượng thể tích 1100 – 1300 kg/m3, mac đện 400. Các tính chất của ximăng này gần giống như ximãng pooclăng nhưng chậm phát triển cường độ hơn ở tuần đầu. Ximãng này chịu được nước ăn mòn nhưng không chịu dược axit.
Ximăng pooclãng – xỉ lò cao dùng cho các bộ phận dưới đất, nhất là khi chịu nhiệt, dưới nước nhung ít quan trọng. Cần chủ ý là thời gian được tháo dỡ ván khuôn cần dài hơn.
Ximãng pooclăng – xỉ lò cao phải đạt các yêu cầu của TCVN 4316 – 1986 (Ximãng pooclăng – xỉ lò cao).
4. Ximãng poocláng hỗn hơp được chế tạo bằng cách pha trộn 20 – 40% (theo khối lượng) vật liệu hoạt tính với ximăng pooclăng. Vật liệu hoạt tính là đất sét nung, xỉ lò cao, tro hay bột đá vôi nghiền nhỏ.
Ximãng này chỉ dùng cho các bộ phận không quan trọng và trên mặt đất, ký hiệu PCB 30 và PCB 40, sau khi trộn với nước 45 phút thì bắt đầu ninh kết và kết thúc sau 10 giờ.
Ximăng pooclăng hỗn hợp phải đạt các yêu cầu của TCVN 6260 – 1997 (Ximãng pooclăng hỗn hợp. Yêu cầu kỹ thuât).
5. Ximăng pooclăng manhê được chế tạo bằng cách nghiền clanhke ximăng pooclăng lẫn với quặng pyrit hoặc quặng sắt.
Ximăng này dùng cho các bộ phận dưới đất nhưng không nắm dưới mực nước ngầm.
ố. Ximăng dất sét nung – vôi được chế tạo bằng cách nung đất sét ở 600 – 800°c nghiển nhỏ, trộn với bột thạch cao và vôi bột với tỷ lệ thích hợp. Ximãng này.có mac thấp nhưng nếu trộn thêm 10 – 20% ximăng pooclãng thì có thể dùng cho các bộ phận quan trọng của nhà nhỏ.
7. Xìmăng xỉ nghiền là loại ximăng không clanhke được chế
tạo bằng cách nghiền xỉ lò cao hoặc xỉ nhiệt điên sấy khô (chiếm 85 – 90% khối lượng), có thêm chất kích thích sự đông Cling của xỉ (như dolomit nung, thạch cao khan,…). • – •
Ximăng này có tính chất gần giống ximãng pooclăng – xỉ ‘lồ cae$
8. Ximăng thạch cao – xỉ được chế”tạo bằng cách nghiền xỉ lời
cao sấy khô với thạch cao và clanhke của xim,ăng pỏoclăng hoặc vôi. —
Ximăng này thường dùng cho các bộ phận dưới mặt đất, có thể chịu được nước có sunphat và nước có tính chất axit nhẹ.
9. Ximăng vôi – xỉ được chế tạo bằng cách nghiền nhỏ xỉ lò cao, trộn với vôi hoặc thạch cao (10 – 25% khối lượng).
Ximãng này mac thấp, thường dùng dể làm nhà ít tầng, kể cả móng.
Ngoài ra còn ximăng chịu axit, ximăng dùng cho giếng khoan,…

3. Các chất dính kết vô cơ khác
1. Thạch cao được sản. xuất từ đá thạch cao. Thạch cao có dạng bôt màu trắng, xốp nhẹ, chỉ đông cứng trong không khí. Thạch cao ninh kết nhanh hơn ximăng: chỉ sau khi đổ vào khuôn 30 phút có thể tháo khuôn được. Nhược điểm của thạch cao là khi gặp nước sẽ bị tan trong nước.
Khi đông cứng thạch cao có sức chịu kéo đèn 20 kG/cm2, sức chịu nén đêh 100 kG/cm2 và tăng thể tích đến 1% (hiện tượng này thuận lợi cho việc đúc thạch cao ưong khuôn).
Thạch cao được dùng để trộn vữa trát, còn được dùng dể pha với vôi và các’ chất có hoạt tính như bột xỉ lò cao, bột gạch, bột silic, tro,… để chế tạo các sản phẩm silicat.
2. Manhêĩil có dạng bột, dùng nhào trộn với dung dịch muối clorua manhê họặc sụnphat manhê để thành vữa. Vữa này ninh kết rất nhanh trong không khí (không đông cứng ữong nước).
Vữa manhêãt gắn rất chắc với gỗ, tre, nứa, do vậy người ta dùng để dán 2 – 3 lớp cót và ép bằng máy thủy lực sẽ được các tấm cót ép cứng, thay được gỗ dán. Ở các nước người ta còn dùng manhêãt để chế tạo các tấm iàm sàn nhà, gọi là silolit.
3. Thủy tinh lỏng là dạng keo màu xanh, đen hay trắng đục, nặng hơn nước, ninh kết trong nước khi trộn với bột hóa cứng (Na2SiFỄ) theo tỷ lệ 12 -15% khối lượng.
Thủy tinh lỏng được dùng cho bêtông, vữa chống thấm, chịu nhiệt độ, chịu axit, chịu nước ăn mòn, quét vào gỗ để tránh mục,…
Ngoài ra còn đất sét cũng đông cứng trong không khí (không đông cứng được trong nứớc).