Chất dính kết – P1

Từ nguồn gốc mà phân a chất dính kết vô cơ chất dính kết hữu cơ.

I. CHẤT DÍNH KẾT VÔ CƠ
Chất dính kết vô cơ có i bại chỉ đông cứng được trong không khí, có loại đông được trong không khí và trong nước.
– Đông cứng trong không khí: vôi thường, thạch cao, manhêãt, đất,
bùn;
– Đông cứng trong không khí và ưong nước: vôi thủy, vôi puzolan, vôi cacbonat, thủy tinh lỏng, các loại ximãng.

1. Vôi
Vôi có các loại: vôi thường, vôi thủy, vôi puzolan, vôi cacbonat,…
1. Vôi thường, còn gọi là vôi canxi. Vôi thường chỉ đông cứng trong không khí, không dông cứng được trong nước, do vậy không dùng ở nơi ẩm ướt và nơi có nước, chỉ được dùng ờ nơi khô ráo, cho nên người ta còn gọi là vôi rắn trong không khí, hoặc gọn hơn là vôi không khí.
Vôi thường là vật liệu rẻ tiền, thông dụng nên dễ bị xem thường. Tuy vậy nếu không biết đặc điểm và yêu cầu về chất lượng thì hậu quả cũng khôn lường dược.
Vôi thường có các dạng: vôi cục, vôi bột, vôi nhuyễn và vôi sữa.
Vôi cục, còn gọi là vôi sống, là vôi lấy từ lò ra, chưa tôi hoặc chưa nghiền, còn ở dạng cục. Vôi cục tốt là vôi nung “tới lửa”, chúi đều, có màu trắng đều hoặc phơn phớt mỡ gà, mịn mặt, xốp nhẹ, gõ có tiếng kêu thanh, chỉ lẫn ít sạn và đá chua chúi.
Khi mua vôi cục về phải tôi ngay, nếu không sẽ bị hút ẩm tả thành dạng bột. Nếu chưa tôi ngay được phải để vôi cục ở nơi khô ráo.
Vôi cục xấu là vôi nung “non lửa”, màu ưắng tái nhợt, vàng nâu hoặc đỏ mờ, nặng, nát vụn, tôi nhanh, nhiều cục chưa được nung thành vôi. Với cục xấu còn là vôi nung “già lùa” (quá íửa): bị đóng thành tảng, màu xám đen, nặng, tôi chậm.
Vôi bột, còn gọi là vôi tả hoặc vôi hydrat, bặt vôi sống, là vôi ờ dạng bột, do hút ẩm nhiều hoặc khi tôi với lượng nư ’’C ít (10-18% khối lượng vôi cục) không thành vôi nhuyễn được, hoặc nghiền vôi cục (bằng máy) thành vôi bột.
Vôi nhuyễn, còn gọi là vội tôi, là vôi đưc : ngâm trong nước. Vôi nhuyễn tốt là vôi tráng đều, mượt, không có nhi Ìg viên đá vôi chia được nung chín, lãn sỏi, sạn, đất.
Vôi nhuyễn có khối lượng thể tích 1 300 – 1 750 kg/m3.
Vôi sữa, còn gọi là hồ vôi, hoặc vôi nước, là vôi nhuýễn nhiều nước.
Vôi nhuyễn chủ yếu để trộn vữa xây, vữa trát, quét vôi, làm gạch xỉ, gạch silicat, bêtông mac thấp, bêtông đất sét, … nhưng dùng ờ nơi nằm trên mặt đất, khô ráo, không dùng ở nơi ẩm ướt, ngập nước và dưới đất.
Từ 1 kg vôi cục, nếu là vôi tốt (loại I) thì tôi được 2,2 / vôi nhuyễn, nếu là vôi loại n thì tôi được 2,0 / vôi nhuyễn và nếu là vôi xấu (loại n) thì tôi được 1,8 / vôi nhuyễn.
Vôi thường phải đạt các yêu cầu của TCVN 2231-1989 (Vôi canxi dùng trong Xây dựng).

2. Vôi thủy là chất dính kết có thể đông cứng được trong không khí và trong nước (nhưng chủ yếu dùng trong nước). Vôi thủy có hai loại: thiên nhiên và nhân tạo.
a/ Vôi thủy thiên nhiên được chế tạo bằng cách nung đá vôi có chứa 8 – 20% (theo khối lượng) đất sét (gọi là đá vôi – sét) trong lò có nhiệt độ
1000-1100°c.
b/ Vôi thủy nhân tạo được chế tạo bằng cách nung hỗn hợp vôi và đất sét trong lò có nhiệt độ 1000 – 1300°c.
Vôi thủy tốt có màu xám nâu, xám sẫm, cứng, gõ có tiếng kêu thanh.
Vôi thủy rất dễ bị hút ẩm nên phải bảo quản nơi khô ráo và không được để lâu quá 3 tháng.
Vôi thủy có khối lượng thể tích 600 – 1000 kg/m3. Hạt vôi thủy rất mịn, tính hút nước cao nẽn cần chống ẩm tốt khi bảo quản.

3. Vôi puzolan đông cứng được trong không khí và trong nước, cũng có vôi puzolan thiên nhiên và vôi puzolan nhân tạổ, vôi puzolan bình thường và vôi puzolan ximăng.
Vôi puzolan thiên nhiên được khai thác từ tro núi lửa, được dùng từ
rất lâu.
Vôi puzolan nhân tạo được sản xuất bằng cách dùng đất puzolan nung, trộn với vôi bột theo tỷ lệ 1 vôi + 3 puzolan, nghiền mịn và đóng
bao như ximăng. Có thể trộn bột puzolan (chưa ưộn với vôi bột) với vôi nhuyễn và cát để làm vữa.
Ở nước ta đất puzolan (với phẩm chất tốt) có ờ Tùng Thiện (Hà Tây) và ở một số nơi khác.
Vôi puzolan có màu hồng, rất mịn, dễ hút ẩm nên cần bảo quản nơi khô ráo và không được để lâu quá 3 tháng.
Vôi puzolan có thể dùng làm vữa xây, vữa trát nơi ẩm ướt hoặc trong nước, dưới đất, xây bể nưởc, làm bêtông gạch vỡ (đá dăm) để lót móng,…

4. Vôi cacboĩiat là hỗn hợp vôi bôt và đá cacbonat nghiền mịn, được sản xuất trong nhà máy và đóng bao như ximâng. Vôi cacbonat dông cứng được trong không khí và trong nước.
Ngoài ra còn vôi dolomit được sản xuất từ đá dolomit.
Tùy theo loại kết cấu, điều kiện sử dụng mà chọn loại vữa và mac vữa phù hợp.

2. Ximăng
Ximãng là chất dính kết đông cứng được cả trong không khí và trong nước. Ximãng có khối lượng thể tích Ỵv = 900 – 1600 kg/m3 khi ở dạng rời và 1300 – 1500 kg/m3 khi đóng bao, dộhứtnuớc T—2 – 6%.
Ximãng có mac 50 -/600 nhưng phổ biến hơn cả là mac 200 –
400.
Xi mãng còn có tính chất tự hàn dính, co ngót (trung bình 0,15 mm/1 m dài), tạo chân không, ngâm nước càng cứng rắn,…
Thời gian ninh kết của ximãng từ khi ưộn với nước đến khi kết thúc tùy từng loại ximăng nhung nói chung là từ 10 phút đến 24 giờ.
Ximãng ưong vữa và bêtông có thể bị ăn mòn do nước bình thường, nước mận, nước có axit, muối và các chất có hại khác.
Từ 1 kg vôi cục, nếu là vôi tốt (loại I) thì tôi được 2,2 / vôi nhuyễn, nếu là vôi loại n thì tôi được 2,0 / vôi nhuyễn và nếu là vôi xấu (loại n) thì tôi được 1,8 ỉ vôi nhuyễn.
Vôi thường phải đạt các yêu cầu của TCVN 2231-1989 (Vôi canxi dùng trong xây dựng).
2. Vôi thủy là chất dính kết có thể đông cứng được trong không khí và trong nước (nhưng chủ yếu dùng trong nước). Vôi thủy có hai loại: thiên nhiên và nhân tạo.
aì Vôi thủy thiên nhiên được chế tạo bằng cách nung đá vôi có chứa 8 – 20% (theo khối lượng) đất sét (gọi là đá vôi – sét) trong lò có nhiệt độ
1000-1100°c.
b/ Vôi thủy nhản tạo đươc chế tạo bằng cách nung hỗn hợp vôi và đất sét trong lò có nhiệt độ 1000 – 1300°c.
Vôi thủy tốt có màu xám nâu, xám sẫm, cứng, gõ có tiếng kêu thanh.
Vôi thủy rất dẻ bị hút ẩm nên phải bảo quản nơi khô ráo và không được để lâu quá 3 tháng.
Vôi thủy có khối lượng thể tích 600 – 1000 kg/m3. Hạt vôi thủy rất mịn, tính hút nuức cao nên cẩn chống ẩm tốt khi bảo quản.