Các vấn đề chú ý đầu tiên khi làm nhà

1. Chọn lô đất Xây dựng nhà
Nếu lô đất xây dựng nhà đã có thì không cần phải bàn về mục này. Nếu phải mua lô đất để xây dựng nhà thì trước tiên phải xác đinh vùng cần chọn, phụ thuộc các yêu cầu như thuận lợi cho công việc (gần chỗ làm việc), cho kinh doanh (nếu có kinh doanh), chợ, trường học,… Khi chọn được vùng thì chọn lô đất cụ thể.
Lô đất xây dựng nhà phải theo quy định đã nói ở mục 1.1.1 và phải là đất thổ cư (không phải đất thổ canh: đất nông nghiệp), dược cơ quan có thẩm quyển cấp chứng nhận quyền sử dụng lồ đất (hợp pháp).
Theo quan niệm của thuyết phong thủy, lô đất xây dụng nhà có được các điểu kiện sau đây:
1. Hướng Khảm (Bắc) có đồi núi, cây cối hoặc công trình cao là thế Huyền Vũ (rùa đen);
2. Hướng Ly (Nam) thì ngược lại, có khoảng đâí bằng phẳng, càng rộng càng tốt, xa xa là ao hồ, sông càng tốt, đó là thế Chu Tước (chim sẻ đỏ);
3. Hướng Chái (Đông) có địa hình thấp dẫn và khổng bị che chắn là thế Thanh Long (rồng xanh);
4. Hướng Đoài (Tây) có địa hình cao, vật chắn là thế bạch Hổ (hổ trắng), thì đó là lô đất “Tàng phong đắc khí” và gọi là “Được đất”. Tất nhiên khó lòng mà đạt được cả bốn điều kiên như vậy, nhưng được diều kiện nào tốt điều kiện đó. Hơn nữa chúng ta có thể tạo ra các điều kiện thuận lợi, chẳng hạn hướng Bắc và hướng Tây có thể trồng cây cao, nhiều lá để chắn,…

Thuyết phong thủy còn khuyên không nên chọn lô đất xây nhà có các điểu kiện như sau:
1. Có giếng bỏ hoang;
2. Cạnh đền, miếu, nghĩa trang;
3. Trơ trọi, khô cằn;
4. Ẩm thấp;
5. Trên đường phân thủy (doi núi);
6. Trên đường tụ nước (khe núi);
7. Ngõ cụt.
Trên đây là một số điề dơn giản mà các nhà khoa học cho rằng có cơ sở. Tuy nhiên, nội dung của thuyết phong thủy còn rất nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến việc chọn lô đất xây nhà. Trong các vấn dề phức tạp (có khi còn rối rắm) có nhiều vấn dề không có cơ sở khoa học, thậm chí phản khoa học, mang nặng tính thần bí, mê túi. Biết được điều tốt mà tận dụng, điều xấu để tránh, đó là việc nên.

2. Quyền sử dụng lô đất
Giấy chứng nhận quyền sử. dụng lô đất do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố cấp.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho các đối tượng sau dây:
1. Những người thừa kế quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở hoặc tài sản mà không có tranh chấp về thừa kế nhưng chưa làm thủ tục sang tên trước bạ;
2-STNLN
2. Những người chuyển nhượng đất ở thực sự có nhu cầu, được chính quyền địa phương xác nhận;
3. Những người sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch, được chính quyền địa phương xác nhận;
4. Đối với trường hợp hoàn toàn không có giấy tờ hợp lệ, nhưng đất phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp và được chính quyền địa phương xác nhận đã sử dụng ổn định từ trước ngày 18-12-1980 và có giấy xấc nhận của cơ quan quản lý quy hoạch.
Trường hợp đất không phải là dất thổ cư thì phải xin chuyển mục đích sử dụng từ thổ canh sang thổ cư.

Để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần:
1. Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
2. Giấy mua bán nhà (nếu là nhà mua);
3. Các giấy tờ liên quan về thừa kế, chia, nhận quà tặng (nếu người làm đơn không phải là chủ đứng tên trong các giấy tờ hợp lệ về đất đai), gồm:
a/ Quyết định giao đất hoặc giấy xác nhận quyền sử dụng đất;
b/ Giấy sở hữu đất hoặc giấy tờ hợp lệ khác.

Các loại giấy tờ được sử dụng khi chuyển-nhượng, thừa kế quyền sử dụng đất (khi không có giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất):
1. Giấy quyết dịnh giao đất, cho thuê đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
2. Các giấy tờ được cơ quan Nhà nước ‘cố. thẩm quyền giao đất, cho thuê đất cấp trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai trong từng thời kỳ của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, mà người được giao đất, cho thuê đất vẫn liên tục sử dụng từ đó đến nay;
3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng tạm thời do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ địa chính mà không có tranh chấp;
4. Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế đô cũ cấp cho người sử dụng đất ở mà người đó vẫn sử dụng đất liên tục từ đó đến nay và không có tranh chấp;
5. Giấy tờ về thừa kế, tặng, cho nhà ở gắn liền với đất mà được ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận và đất đó không có tranh chấp;
6. Bản án hoặc quyết định của tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;
7. Giấy tờ giao nhà tình nghĩa;
8. Giấy tờ chuyển nhượng đất đai, mua bán nhà ở kèm chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thẩm tra là đất đó không có tranh chấp và được ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xác nhận kết quả thẩm tra của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

3. Chọn tuổi làm nhà
Làm nhà là việc trọng đại của đời người, do vậy người ta thường chọn tuổi (năm) làm nhà. Điều này làm cho người làm nhà yên tâm, đó là “Nhân tố tâm lý”, góp phần cho sự thành công.
Theo lưu truyền:
“Làm nhà vào tuổi Kim lâu,
Không chết người cũng chết trâu”.
Đàn ông trong gia đình thường làm (lo) các việc lớn, do vậy mới có câu:
“Lấy vợ theo tuổi đàn bà
Làm cửa làm nhà theo tuổi dàn ông”.
Tuy nhiên, nếu không còn chống (chồng mất, ỉy dị,…) hoặc không lấy chổng thì tất nhiên người chủ sự khi làm nhà là phụ nữ.
Như vậy chọn tuổi làm nhà theo tuổi người chủ sự, tránh tuổi Kim lâu.
Cách tính tuổi Kim lâu như sau:

Các vấn đề chú ý đầu tiên khi làm nhà 1

1. Tính ‘Tuổi mụ” của người chủ sự ứng với năm làm nhà, chẳng hạn người chủ sự sinh năm 1950 và làm nhà vào năm 2002 thì tuổi mụ là:
2002-1950 = 52
52 + 1 = 53.

2. Tính tuổi Kim lâu bằng cách lấy tuổi mụ chia cho 9, số dư là 1, 3, 6, 8:
“ Một, ba, sáu, tám, tuổi Kim lâu, cưối vợ, làm nhà chẳng được đâu”.
Tính cho trường hợp nêu trên, ta Cộ:

Như vậy, với năm-2002 thì người chủ sự sinh nãm 1950 bị tuổi Kim lâu. Do vậy để năm 2003 hãy làm nhà, hoặc muốn làm nhà trong năm 2002 thì phải “Mượn tuổi”.
Người ta khuyên rằng, làm’ nhà không nên kéo dài trong hai năm. Theo chúng tôi, nhà ở gia đình cũng không lớn lắm nên cố gắng làm gọn trong nảm, bởi vì tết Nguyên đán là dịp thiêng liêng mà nhà làm chưa xong sẽ kém phấn khởi, hơn nữa tết thường nghỉ lâu nên càng bị kéo dài.
Miền Bắc và miền Trung nước ta thường làm nhà vào đầu nâm và cuối năm, là thời gian ít mưa, bão, thuận lợi (khô ráo) cho việc làm nhà.
Đầu năm thường bắt đầu vào cuối tháng giêng, đầu tháng hai âm lịch và cố gắng kết thúc các công việc cơ bản trước tiết Tiểu mãn. Cuối năm thường bắt đầu vào cuối tháng bảy kết thúc mọi việc trước tết Nguyên đán.
Khởi công vào đầu năm thì mực nước ngầm ở thấp, thuận lợi cho việc làm móng và thời gian đến tết còn dài. Khởi công vào cuối năm thì nhiều ngày khô, hanh, thuận lợi cho thi công.
Tất nhiên, nếu không thể hoàn thành được trong năm thì đành phải
kéo dài.
Một vấn đề nữa mà người ta khuyên là không nên làm nhà khi trong gia đình có người ốm đau, chửa đẻ. Hiển nhiên đó là các trường hợp bất dắc dĩ cần tránh lúc làm nhà.
Trước lúc làm nhà phải thiết kế (xem mục 3.1.6), phải chuẩn bị tiền, vật liệu, phải xin giấy phép xây dựng nhà, giấy phép dược sử dụng tạm thời vỉa hè (nếu phải để vật liệu, phế thải tạm thời ở vải hè).