Các loại vữa

1. Theo cách đông cứng có:
a/ vữa đông cứng trong không khí (còn gọi là vữa khô), chỉ đông cứng trong không khí, không đông cứng được trong nước, do vậy không dùng được ở những nơi thiếu không khí (ngầm trong đất, khối xây dày quá, …) hoặc bị ẩm ướt (tầng hầm, móng,…). Chất dính kết để chế tạo loại vữa này là vôi, thạch cao, đất sét, manhêát.
b/ Vữa dông cứng trong nước (còn gọi là vữa nước hoặc vữa thủy lực), có thể đông cứng được trong không khí, nơi ẩm ướt, nơi ngập nước. Chất dính kết để chế tạo loại vữa này là các loại ximăng, vôi thủy, vôi puzolan, vôi cacbonat, thủy tinh lỏng.
2. Theo loại chất dính kết có: vữa ximãng, vữa ximăng – đất sét, vữa vôi, vữa tam hợp, vữa thạch cao, vữa đất sét, vữa atphan,…
3. Theo tính chất sử dụng có: vữa xây, vữa trát, vữa lát, vữa ốp, vữa láng, vữa trang trí, vữa đặc biệt,…
4. Theo khối lượng thể tích có: vữa thông thường (1) (có yv > 1500 kg/m3) và vữa nhẹ (có Yv < 1500 kg/m3).
Các loại vữa phải đạt các yêu cầu của TCVN 4314-1986 (Vữa Xây dựng. Yêu cầu kỹ thuật). *

Bây giờ chúng ta nói về từng loại vữa.
1. Vữa vôi là tên gọi thông thường của vữa vôi – cát, gồm vôi, cát trộn với nước.
Vữa vôi – cát có khối lượng thể tích khoảng 1800 kg/m3, có mac 2-8, độ giữ nước T > 75%, ninh kết chậm (chậm nhất trong các loại vữa).
Vữa vôi – cát chỉ đông cứng trong không khí. Dùng vữa vôi – cát để xây dựng và trát nhà tạm, nhà cấp IV,… ờ những nơi khô ráo.
Muốn tăng cường độ (mac) của vữa vôi – cát thì thêm ximăng vào. Vữa này có thể dùng dược ở nơi ẩm ướt. Nếu lượng ximãng thêm vào dáng kể thì được vữa tam hợp (sẽ nói ở sau).
Vữa vôi – cát vô hại dối với sức khỏe.
Nếu thay cát bằng xỉ, chúng ta được vữa vôi – xỉ, thay cát bằng rơm thì được vữa vôi – rơm.
Có thể dùng trạt vôi (xỉ lò vôi) trộn cát làm vữa.
Vữa vôi thủy gồm vôi thủy và cát trôn với nước. Lượng nước dùng cho vôi thủy khoảng 15 – 20% lượng vôi thủy. Nước trong vữa nhiều thì cường độ củà vữa vôi thủy giảm.
Vữa vôi thủy dùng trong nước sẽ có cường độ cao hơn trong không khí. Với vôi thủy mạnh do nước ta sản xuất, cường độ của vữa khi đông
<l) Có khi gọi là vữa nạng.
cứng trong không khí là 18 – 23 kG/cm2 nhung khi đông cứng trong nước là 26-38 kG/cm2. Vữa dùng vôi thủy yếu có cường độ 6-8 kG/cm2.
Vữa vôi thủy ninh kết tương đối chậm.
Vữa vôi puzolan gồm vôi puzolan và cát trộn với nước.
Vữa vôi puzolan dùng được ở nơi ẩm ướt hoặc trong nước, dưới đất, làm bêtông gạch vỡ (hoặc đá dăm) để lót móng.
Vữa vôi puzolan đông cứng chậm, do vậy muốn dông cứng nhanh cần trộn thêm 20% ximãng pooclãng và gọi là vữa vôi puzolan – ximăng. Vữa vôi puzolang – ximãng có cường đô 50 kG/cm2 sau 7 ngày và 100 kG/cm2 sau 28 ngày.

2. Vữa ximăng là vữa chỉ dùng ximãng trộn với nước, được gọi là vữa ximãng nguyên chất. Vữa này dùng để đánh màu, chống thấm cho bể chứa nước, bể xí, mái bằng,…
Thông thường vữa ximăng được dùng để gọi vữa ximãng – cát (cũng như vữa vôi, thực tế là vữa vôi – cát).
Vữa ximãng – cát có khối lượng thể tích lớn hơn 2000 kg/m3, mac 25 – 200, độ giữ nước T > 63%, ninh kết nhanh (chỉ sau vữa thạch cao) và khó xây, khó trát. Vữa ximãng – cát phải dùng hết trong 1 giờ kể từ khi trộn xong.
VI ximăng không phải là chất dính kết có tính dẻo nên muốn vữa ximãng – cát dẻo hơn, có tính lưu động cao hơn, ít nứt nẻ hơn thì cho thêm vôi hoặc đất sét và được vữa ximăng – vôi, vữa ximăng – đất sét. Khi lượng vỡi cho vào đáng kể thì được vữa tam hợp (sẽ nói ở sau).
Vữa ximăng – cát dùng để xây, trát, ốp, lát, láng ở mọi ncã, kể cả nơi ẩm ướt, chịu nước, dưới mực nước ngầm, chịu lực lớn,… khi xây người ta thường dùng vữa ximãng – cát vàng mac 50 hoặc 25, khi trát thường dùng vữa ximãng – cát đen trộn với vôi cho dễ trát. Khi ưát nơi quan trọng phải 7-STNLN
dùng đến vữa mac 80 hoặc 50. Ngày nay do ximãng nhiều và cũng không đắt lắm nên khi xây nhà ờ gia đình từ hai tầng trở lẽn người ta có xu hướng dùng vữa ximãng cát cho cả xây và trát, lát, ốp, láng.
Ximãng không tốt cho sức khỏe, không nên lạm dụng ximăng.

3. Vữa tam hợp, còn gọi là vữa bata, vữa hỗn hợp. Thực chất là vữa vôi (hoặc vữa đất sét) có thêm ximăng đáng kể để tăng cường đô (mac) và dùng được ở nơi ẩm thấp, hoặc vữa ximãng có thêm vôi (hoặc đất sét) để tăng dẻo.
Vữa tam hợp có khối lượng thể tích 1800 – 2000 kg/m3, có mac 8 – 100, độ giữ nước T > 75%.
Vữa tam hợp dùng để xây, trát, lát, ốp, láng hầu như ờ mọi nơi. Vữa tam họp được ưa chuông nhờ có tính dẻo cần thiết (nên dễ thi công) và thời gian đông cứng vừa phải.

4. Vữa thạch cao gồm bột thạch cao trôn với nước. Lượng nước chiếm 65 – 90% lượng thạch cao. Vữa thạch caọ dùng để xây, trát, làm gờ chỉ,… ỏ những nơi khô ráo.
Một số tính chất của vữa thạch cao như ở bảng 2.4.
Bảng 2.4

Các loại vữa 1

Nếu vữa thạch cao trộn thẽm cát thì được vữa thạch cao – cát, có cường độ nhỏ hơn vữa thạch cao.
Nếu vữa thạch cao trộn thêm vôi thì được vữa thạch cao – vôi, dùng để xây.
Để trát có thể dùng vữa thạch cao tự nhiên hay vữa REHA (tận dụng khói thải của các nhà máy nhiệt điện đốt than).
Không được trôn ximãng vào vữa thạch cao, vì khi đông cứng thì ximãng co lại, còn thạch cao thì nở ra nên không thể liên kết được với nhau.
Vữa thạch cao ninh kết rất nhanh (nhanh nhất trong tất cả các loại vữa).
Vữa thạch cao tốt hơn vữa vôi và vữa ximăng, vì nó sạch, không độc hại.
Chỉ những nơi có độ ẩm cao (buồng tắm, vệ sinh, bếp,…) thì không nên dùng vữa thạch cao, vì không bền. Rất nên tận dụng vữa thạch cao, vì rẻ, dễ dùng và vô hại.
3. Vữa đất sét gồm đất sét, cát nhào trộn với nước. Vữa này chỉ dùng cho nhà tạm và nơi khô ráo, tựờng rào.
Nếu vữa đất sét có thêm vôi thì dược vữa đất sét – vôi, cường độ cao hơn vữa đất sét, dùng để xây và trát các khối xây bằng gạch mộc.
4. Vữa atphan (xem à mục 2.7.4).
5. Vữa xây (xem ở mục 4.3.2.4).
6. Vữa trát (xem ở mục 4.8.1).
7. Vữa lát (xem ờ mục 4.9.1).
8. Vữa ốp (xem ở mục 4.10.1).
9. Vữa láng (xem ờ mục 4.11.1).
t
10. Vữa đánh màu (xem ở mục 4.11.4).
Ngoài ra còn có vữa dặc biệt dùng cho các bộ phận đặc biệt như chống thấm, chống cháy, cách âm, cách nhiệt, chịu axit, chịu ăn mòn,…
Vữa chịu nhiệt độ gồm ximăng XX quặng, bột sa mốt, cát vàng hạt nhỏ trộn với nước. Vữa này chịu được nhiệt đô 1230 – 1270°c.
Vữa gồm ximãng super, bôt sa mốt, cát vàng hạt nhỏ trộn với nước có thể chịu được nhiệt độ 1080 – 1210°c.
Vữa chịu axit gồm bột thạch anh, cát thạch anh, thủy tinh nước, thuốc trừ sâu Na2SiF6 lỏng trộn với nước.
Vữa chống bào mòn gồm ximãng pooclãng, cát vàng, phoi thép trộn với nước.