Các biện pháp xử lý nền

Các biện pháp xử lý nền bao gồm:
1. Các biện pháp làm tăng độ chặt của nền đất yếu, có ba loại:
aỊ Làm chặt đất bằng tải trọng tĩnh.
b/ Làm chặt đất trên mặt bằng đầm (đầm nặng, đầm rung), xe lu,…
Biện pháp này dược dùng khi độ ẩm của đất nền nhỏ.
c/ Làm chặt đất dưới sâu bang các loại cọc đất, cọc đất ximăng, cọc cát ngược, cọc vôi, móng cọc, giếng cát, giếng cactông, nổ mìn,…
Biện pháp này dùng khi đất nền có độ rỗng lớn, ở trạng thái rời, bão hoà nước, đất có kết cấu dễ bị phá hoại và kém ổn định (đất cát rời, đất dính ở trạng thái chảy, đất bùn, than bùn,…).
2. Các biện pháp cải tạo sự phán bố ứng suất và diều kiện biến dạng của nền đất yếu, đó là: dùng đệm đất, đệm cát, đệm đá – sỏi,… để thay lớp đất yếu bên ừên hoặc dùng bệ phản áp. Các biện pháp này nhằm làm tăng khả năng chịu lực của nền và hạn chế mức độ biến dạng của nền, nhất là khi nền lún lệch.
Qua thực tế thấy rằng, các biện pháp thay đất tỏ ra ưu việt khi lớp đất yếu thuộc sơ đồ 3 và dày < 3,Om, trong đó thường dùng nhất là đệm cát.
Đệm cát có tác dụng:
– Giảm đô lún của móng;
– Giảm chẽnh lệch lún;
– Giảm vật liệu làm móng (vì giảm được chiều sâu đặt móng);
– Cát có ma sát lớn nên móng không có khả năng trượt phảng trẽn mặt tầng đệm cát.
Khi lớp đất yếu > 3,Om hoặc nền thuộc sơ đồ 2, hoặc lớp đất yếu nằm dưới mực nước ngầm thì không nên dùng biện pháp này.
3. Các biện pháp xử lý nền đất yếu bằng hoá – lý, đó là phụt vữa ximãng, silicat hoá, nhựa tổng hợp, nhựa bitum, điện thấm, điện hoá, điện siỉicat, nhiệt,…
Các biện pháp này chủ yếu dùng để xử lý nền nhà dang sử dụng hoặc chống thấm.
4. Các biện pháp khác, như làm rãnh thoát nước cho nền, thấm ướt trước, hạ mực nước ngầm,…
Trong các biện pháp xử lý nền thì nên ưu tiên biện phấp làm chặt đất trên mặt (để sử dụng lớp đất này làm đệm phân phối tải trọng), đồng thời cũng nên cân nhắc tới việc dùng đệm (đất, cát,…).
Các biện pháp xử lý bằng kết cấu bao gồm:
1. Chọn sơ đổ kết cấu nhà;
2. Chọn loại móng và chiều sâu đặt móng;
3. Dùng kết cấu móng toàn khối hoặc nửa lắp ghép để đảm bảo cường độ và độ ổn định của kết cấu bên trên khi lún không đều;
4. Làm giằng (đai) cho móng và tường;
5. Tăng điện tích gối lựa;
6. Dùng neo;
7. Làm khe lún;
8. Dùng các mối nối;
9. Đảm bảo sự làm việc đồng thời giữa móng và kết cấu bên trên;
10. Xây dựng tầng hầm sâu hơn ở những phần nhà mà dô lún của nó dự tính lớn hơn những phần bên cạnh;
11. Làm sẵn chiều cao nền dự trữ để phòng lún;
12. Thay vật liệu cho kết cấu;
13. Quy định nghiêm ngặt tốc đô và trình tự dào – đắp hố móng, xây – lắp móng;
Chọn sơ đồ kết cấu nhà tức là chọn chiên lược chống đỡ tải trọng của nhà (sơ dồ kết cấu chịu lực của nhà). Nhà ờ gia dinh thường có sơ đồ kết cấu tuyệt đối cứng, còn sơ đổ kết cấu mềm (đàn hồi) thì thường dùng cho nhà công nghiệp, nhà kho.
Chọn sơ đồ kết cấu nhà phải căn cứ vào:
– Tính chất của tải ữọng;
– Quan điểm sử dụng nhà;
– Tính chất của nền;
– Có gió bão, động đất lớn không;
– Các công trình liền kể;
Thông thường, người ta căn cứ vào điều kiện và vật liệu làm các kết cấu chịu lực chính mà phân ra bốn sơ đồ kết cấu chịu lực chính:
1. Sơ đồ kết cấu khung chịu lực (khung hoàn toàn, khung trọn);
2. .Sơ đồ kết cấu tường chịu lực;
3. Sơ đồ kết cấu kết hợp khung và tường .cùng chịu lực (khung không hoàn toàn, khung khuyết);
4. Sơ đổ kết cấu không gian chịu lực.
Sơ đồ kết cấu khung chịu lực có dô cứng không gian lớn hơn, ổn định hơn và chịu chấn đông tốt hơn sơ đổ kết cấu tường chịu lực, do vậy khi nhà bị lún lệch và phát sinh vết nứt thì vết nứt phát triển chậm và nói chung không ảnh hưởng lắm. Ngoài ra nhà khung chịu lực còn có ưu điểm là tiết kiệm vật liệu, trọng lượng bản thân nhà nhỏ hơn, hình thức kiến trúc nhẹ nhàng, tiết kiệm không gian, bố trí phòng thuận tiện hơn, cơ động hơn. Tuy nhiên, nhà khung chịu lực thường đắt hơn, thi công phức tạp hơn,…
Sơ đổ kết cấu tường chịu lực chỉ nên dùng khi nhà có khẩu độ nhỏ, không quá năm tầng (dể cho an toàn thường chỉ dùng cho nhà không quá ba tầng) và chỉ chịu tải trọng thẳng đứng, không chịu chấn động (gió bão, động đất,…). Sơ đồ kết cấu tường chịu lực có tường ngang chịu lực và tường dọc chịu lực nhưng chì nên dùng tường ngang chịu lực.
Trong nhà ờ gia đình không dùng kết cấu không gian chịu lực.
Trong các biện pháp xử lý bằng kết cáu thì biện pháp làm giằng liên tục trên toàn bộ các tường quanh nhà ở độ cao dưới các sàn trung gian (các sàn không phải sàn tầng hầm và sàn mái), giằng móng, tăng diện tích gối tựa, làm khe lún, tăng thép cho các kết cấu,… đều là những biện pháp hiệu quả.
B. Nền trên móng
Nền trên móng thường gọi là nền nhà. ở mục 3.2.12 đã nói về chiều cao của nền nhà, ở đây chỉ nói về cấu tạo (kết cấu).
Cấu tạo của nền nhà gồm các lớp như sau (thứ tự từ dưới lên trên):
1. Đất dắp (thường gọi là tôn nền, sẽ nói ờ mục 4.2.7).
2. Lớp nền, còn gọi là lớp làm phẳng, thường bằng bêtông gạch vỡ dày 100 – 150 mm hoặc bêtông thông thường nhưng mac thấp, hoặc lớp xỉ hạt to dày 150 – 200 mm.
3. Lớp lót, bằng vữa ximãng – cát(1) như sau:
– Nơi khô ráo, mac vữa > 50;
– Noi ẩnì ướt, mac vữa > 75.
Chiều dày lớp vữa lót tùy thuộc loại gạch lát (xem ờ mục 4.9.3).
4. Lớp mặt:
– Nếu lát thì dùng gạch lá nem, gạch men, gạch ximăng – cát, gạch chì, đá tấm, gỗ,… (xem ở mục 4.9.1).
– Nêu không lát thì láng và đánh màu, lăn buxăc hoặc kẻ ô vuông. Nếu yêu cầu mỹ thuật cao thì láng granito, mạn đá. Sau khi láng có thể trải thảm, trải tấm nhựa,… (xem ở mục 4.11.3).
Mặt nền khu phụ (bếp, xí, tắm) phải thấp hơn các phòng ở, hành lang,…
Lấp hố móng và đắp nền xem ờ mục 4.2.7; thi công mặt nền xem ở các mục 4.9 và 4.11.