Bản vẽ và thuật ngữ chuyên môn – P1

1. Thuật ngữ chuyên môn
1. Chỉ giới đường đỏ là giới hạn phần đất được sử dụng theo giấy quyền sử dụng đất, do cơ quan quy hoạch xác định.
2. Chỉ giới Xây dựng là giới hạn của nhà dược xây dựng, do cơ quan quy hoạch xác định.
Thông thưòng thì chỉ giới xây dựng thu hẹp hơn chỉ giới đường dỏ. Tuy vậy, có khi phần không gian > 3 m (so với mặt vỉa hè), mép bancông, mái hắt,… được phép nhô ra khỏi chỉ giới đường đỏ (xem mục 1.1.4), khi đó chỉ giới xây dựng phần trên của nhà nới hơn chỉ giới đường đỏ. Điều được phép này phải dược ghi trong giấy phép xây dựng.
Chỉ giới xây dựng có thể trùng với chi giới đường đỏ, nếu nhà được phép xây dựng sát chỉ giới đường đỏ hoặc chỉ giới xây dựng lùi vào so với chỉ giới đường đỏ, nêu nhà không được phép xây dựng sát chỉ giới đường ‘dỏ (do yêu cầu của quy hòạch). Khoảng cách giữa chỉ giới xây dựng và chỉ giới đường dỏ là khoảng lùi.
1. Lộ giới là giới hạn phần đất dành để làm đường, bao gồm lòng đường, lề đường và vỉa hè, do cơ quan quy hoạch xác định.
2. Cốt ± 0,00 là mặt phẳng chuẩn được dùng để so chiếu các mật phẳng khác. Các mặt phẳng cao hơn được gọi là cốt dương (+), các mặt phẳng thấp hơn được gọi là cốt âm (-).

2. bản vẽ
Để dễ sử dụng và sao chụp, người ta thường dùng ‘các bản .vê khổ A3 = 297 X 420 và A< = 210 X 297 (mm).
Các bản vẽ gổm khung bản vẽ, phần nội dung và phần khung tên. Khung tên đặt ờ góc dưới bên phải của mỗi bản vẽ, ghi các thông tin:
– Tên công trình (nhà), tên chủ đầu tư;
– Tên bản vẽ, số thứ tự, loại bản vẽ (hồ sơ xin phép xây dựng, hổ sơ thiết kế sơ bộ, hồ sơ thiết kế thi công, hồ sơ kỹ thuật);
– Tên người thiết kế, người kiểm tra;
– Tỳ lệ bản vẽ.
1. Tỳ lệ bản vẽ là tỷ số (1) giữa kích thước đo trên bản vẽ và kích thước tương ứng đo trên thực tế.

2. Kích thước ghi trong bản vẽ là kích thước thật của các bộ phận nhà. Đi kèm theo số ghi kích thước không ghi dơn vị, vì theo quy ước: chì độ cao (2) là kích thước tính bằng mét (m), còn các kích thước khác đều tính bằng minlimet (mm), có khi dùng centimet (cm) nên không phải ghi đơn vị vào (h.1.3).
Kích thước thực của nhà rất lớn, phải thu nhỏ rất nhiều mới vẽ lên giấy được. Tỷ số này chính là số lần thu nhỏ đó.
ữ) Theo cao trình của vị trí đó so với cốt ± 0,00.

Bản vẽ và thuật ngữ chuyên môn - P1 1

Các chỉ dẫn trên mặt bằng và mặt cắt của các chi tiết có phóng to được ghi bằng một vòng tròn cộ một vạch ngang ở giữa, số trên vạch ngang ghi thứ tự chi tiết, số và chữ ở dưới vạch ngang ghi tên bản vẽ có chi tiết phóng to, nếu chỉ là một vạch ngang ngắn thì chi tiết phóng to đó ngay trong bản vẽ đó. Chẳng hạn:

Bản vẽ và thuật ngữ chuyên môn - P1 1

3. Độ cao là chiều cao của một điểm (trên mặt đất hay trên nhà). Có hai loại độ cao:
a/ Độ cao tuyệt đối: So với độ cao mặt biển (lấy là 0). Độ cao này chỉ dùng ở bản vẽ mặt bằng toàn thể, biểu thị đô cao mặt nền và mặt đất quanh nhà.
b/ Độ cao tương đối: Độ cao các diểrn so với độ cao mặt nền nhà (lấy là 0, viết là ± 0,00). Nếu độ cao của diểm cao hơn mặt nền nhà thì không cần ghi (+) (hoặc ghi cũng được) nhưng nếu độ cao của điểm thấp hơn mặt nền nhà thì phải ghi (-).
Kích thưởc độ cao thường lấy là mét (m) làm đơn vị, sau đó lấy hai chữ số lẻ (đến cm).

4. Các loại bản vẽ
a/ Bản vẽ phối cảnh là bản vẽ thể hiện tầm nhìn nhà (công trình) trong thực tế (h.1.4).
b/ Bản vẽ mặt đứng là bản vẽ thể hiên hình dáng bôn ngoài nhà (công trình) (h.1.5).
Bản vẽ mặt đứng biểu thị chiều cao của các tầng nhà, độ cao của cửa, mái hắt, ôvãng,… và các yêu cầu xây trát mặt tường. Nhà có bốn hướng, nên mặt đứng có bốn bản vẽ: mặt chính (mặt trước), mặt sau và hai mặt bên. Nếu mật bên trái và mặt bên phải giống nhau thì chỉ cần vẽ một bên.
c/ Bản vẽ mặt bằng (xem hình 1.3) là bản vẽ thể hiện nhìn xuống không gian bên trong sau khi dã cắrngang (thường cắt cách mặt nền, mặt sàn khoảng 1,5 m) (h’.1.6).
Bản vẽ mật bằng biểu thị cách bố trí mặt bằng và kích thước theo mặt bằng, ngoài ra còn ghi cắc đường cắt, đường tim,… có thể có nhiều bản vẽ mặt bằng.

Bản vẽ và thuật ngữ chuyên môn - P1 1

Hình 1.4: phối cảnh.

Bản vẽ và thuật ngữ chuyên môn - P1 1
Hỉnh 1.5: Mặt đứng phía trước (mặt chính) (cửa đi xem ở hình L3): 1 – mái lợp ngói thường; 2 – lanhtô bêtông cốt thép;

3 – chân tường trát vữa icimăng; 4- tường gạch trần có bắt mạch.

Mặt bằng ngôi nhà thương được xác định bằng hệ trục tọa độ vuông góc cùng phương của hệ tườ g dọc vặ tường ngang nhà.
Các trục dọc nhà dóng 1 r các tim tường dọc của nhà và được ký hiệu bằng các chữ A, B, c,… trong vòng tròn theo thứ tự từ trước ra sau (trên bản vẽ là từ dưới lên trẽn) (xem hình 1.3).
Các trục ngang nhà dóng từ các tim tường ngang của nhà và được ký hiệu bằng các số 1, 2, 3,… trong vòng tròn theo thứ tự từ trái sang phải (xem hình 1.3).
Nếu nbà có các tường tầng dưới dày hơn các tường tầng trên thì trục của các tường xung quanh nhà (tường hồi và tường biên) phải dóng từ các tim tường trên (mỏng hơn). Đây là trường hợp mặt tường xung quanh nhà là một mặt phảng đối với mỗi phía của nhà (khồng có vệt giật cấp phân chia hai phần tường có độ dày khác nhau).

Bản vẽ và thuật ngữ chuyên môn - P1 1

Hình 1.6: Cách xác định mặt bằng’

d/ Bản vẽ mặt cắt là bản vẽ thể hiện phần nhìn thấy khi đã cắt (h.l.7a) một không gian theo chiều đứng (h.l.7b).
Ngoài kích thước và độ cao, hên mặt cắt còn ghi các phương pháp và yêu cẩu thi công nền và mái, vị trí tương đối giữa cửa và tường, cách bô’ trí theo chiều thẳng đứng của các đường ống, cầu thang, hình thức cấu tạo các bộ phận xây.